Dưới đây là lá đơn xin việc có thật của một thiếu niên 17 tuổi gửi chi nhánh hãng McDonald’s ở Florida. Kết quả là họ đã tuyển dụng cậu vì cậu rất trung thực và hài hước.
Tên: Greg Bulmash
Giới tính: Chưa rõ, còn tùy thuộc vào đối tượng
Vị trí làm việc mong muốn: Chủ tịch hoặc phó chủ tịch công ty. Nhưng thực ra thì bất cứ vị trí nào có thể. Nếu tôi mà được kén cá chọn canh, tôi đã chẳng đâm đơn vào đây.
Mức lương mong muốn: 185.000 USD/năm cộng với cổ phần. Nếu không được thì hãy đưa ra đề nghị và chúng ta có thể trao đổi.
Trình độ học vấn: Có.
Công việc vừa qua: Mục tiêu trù ếm của cấp trên.
Mức lương: Ít hơn tôi xứng đáng được nhận.
Thành tích nổi bật: Bộ sưu tập những chiếc bút và giấy nhắn bị mất.
Lý do thôi việc: Vỡ mộng.
Giờ giấc làm việc thích hợp: Bất cứ lúc nào.
Những thời điểm thích nhất: 1h30-3h30 chiều, thứ hai, thứ ba và thứ năm.
Anh (chị) có sở trường nào không? Có, nhưng chúng thích hợp trong không khí thân mật, lãng mạn hơn.
Chúng tôi có thể liên hệ với ông chủ của anh (chị) hiện nay không? Nếu giờ tôi có ông chủ, tôi làm đơn này làm gì?
Có vấn đề sức khỏe nào khiến anh (chị) không thể nâng một vật nặng 22 kg hay không? 22 kg gì?
Anh (chị) có ôtô không? Tôi nghĩ câu hỏi thích hợp ở đây phải là "Anh (chị) có chiếc ôtô nào có thể chạy không?".
Anh (chị) có hút thuốc không? Khi làm việc thì không, lúc nghỉ ngơi thì có.
Bạn dự định làm gì sau 5 năm nữa? Sống ở Bahamas với một siêu mẫu tóc vàng giàu có nhưng bị câm, người luôn luôn nghĩ rằng tôi là tạo vật tuyệt vời nhất. Thực sự ra thì ngay lúc này tôi đã muốn thế rồi.
Bạn có xác nhận những điều khai trên là đúng sự thật? Dĩ nhiên là có.
2017
Một ngày bắt đầu bằng bốn cái chấm
....
như cánh cửa mở ra mưa, ra nắng.
Cánh cửa ấy bây giờ mở ra trơn tru, chứ không rỉ sét kẽo kẹt như trước. Có lẽ vì chủ nhân của nó mở cửa ra ngoài thường xuyên hơn xưa.
Một cánh cửa mở ra, thì cánh cửa khác phải khép lại. Khép lại dĩ vãng, khép lại những điều không muốn nhắc, muốn nhớ.
Bây giờ, tôi không thích đi xa nữa. Mỗi ngày tôi chỉ đi gần, trên những con đường quen thuộc. Tôi cũng không còn ước ao gặp gỡ những người trong mộng. Mỗi ngày chỉ mong nghe giọng một hai người quen quen.
Tôi thích coi những phim phiêu lưu mạo hiểm, thích đọc những truyện trinh thám ly kỳ; nhưng lại cũng thích một mình đi trên những con đường mòn, vắng vẻ quạnh hiu. Có lẽ, đấy là hai mặt của một con người. Người khác có thế không?
Tôi sẽ mở cửa bước ra ngoài, dù trời mưa hay nắng. Tôi sẽ lắng nghe người, dù lời hay vui buồn. Tôi với trời, tôi với người, tôi với tôi. Thực sự, không ai hoàn toàn cô độc. Chỉ cần mở cửa bước ra ngoài.
Yêu thương, giận hờn, ghen ghét rồi sẽ có một ý nghĩa khác xưa. Cần có một ngày nắng ráo, một ngày mưa sa, một ngày gió lộng, để lớp da nhạy cảm làm quen với những đổi thay trong trời.
Sáng nay, tôi mở cửa ra ngoài, để gặp trời đang mưa. Ướt một chút, lạnh một chút, cô liêu một chút. Nhưng lòng tôi yên lành như một đêm mùa hạ. Yên như con đường Ba - mươi lúc sáu giờ sáng. Có thể trong ngày, tôi sẽ lại có dịp nghe thấy giọng của người quen. Có thể tôi sẽ may mắn nhận được một nụ cười. Biết đâu ....
CV
Con lại về đây với quê hương, sau những tháng ngày xa vắng. Mẹ ngồi đó lưng còng tóc trắng mong đợi mỏi mòn. Con lại về đây với những thương yêu, phía chân trời xa cánh diều mơ ước. Tháng bảy mưa ngâu, đồng quê trũng nước, về đâu những điệu hò.
Tháng bảy về vắt ngang những lo toan, chuyện áo cơm suốt đời tần tảo. Ngày hôm nay còn đầy phiền não, tiếng cười trên môi tan như xác pháo mất rồi ngẩn ngơ. Tháng bảy ngày xưa đẹp mãi những vần thơ, chuông chùa reo vang yên bình hạnh phúc, hoa đỏ con cài người ta vui chúc: còn đó trong đời những thương yêu!
Tháng bảy bây giờ vắng lặng buồn thiu, trắng xoá trong con hoa hồng mất mẹ. Không còn nữa nhà xưa quạnh quẽ, lá rụng vô tìn! Mím chặt môi đi giữa lặng thinh, cuối mặt xuống dấu đi dòng nước mắt. Ở chốn trần gian con biết mình mất mẹ, nơi xa xôi mẹ đã mất con, vậy mà với con một chữ hiếu thôi vẫn không tròn?
Công cha như núi Thái, nghĩa mẹ tựa biển trời, bài hát ru đầu đời theo tháng năm bay mất, để bây giờ trước niềm đau sự thật… Than ôi! Nén lòng đi, khép lại những vành môi, thành tâm đi để hiểu rằng hôm qua ta đã từng có mẹ. Vu Lan về ta thấy mình hạnh phúc trong cuộc đời và trước những khổ đau.
Hoa hồng hôm nay và hoa của mai sau, của những mùa Vu Lan tiếp nữa.
Nụ hôn Kathryn rất sợ tiếng chuông điện thoai reo, vậy mà nó lại reo đến lần thứ ba. Bé Ellen đang ngủ cũng phải bật dậy, lay gọi mẹ:
- Mẹ, điện thoại của mẹ.
Chẳng đừng được, Kathryn nhấc ống nghe, nàng không lạ gì giọng nói bên kia: - Tại sao em không nhấc ống nghe Kathryn? Em phải nghe anh nói, nghe kỹ đây: Em phải ra sân bay ngay bây giờ, chuýen bay còn 45 phút nữa thì cất cánh. Bay mất 1 giờ 10 phút thì đến, anh đợi em ở phi trường Melbourne. Mọi thứ đã xong hết, chỉ đợi em tới là chúng ta bay luôn qua Perth, và như thế…
Im lặng…
Đầu bên kia gắt lên:
- Em có nghe không Kathryn? Em hãy bỏ lại tất cả, rồi mọi việc sẽ đâu vào đó, con bé Ellen sẽ có người lo chính bố nó muốn như thế cơ mà. Hãy mặc hắn, cái thứ ma-cà-bông đó, nó phải trả giá cho những gì đã gây cho chúng ta. Em cho anh biết, em đã sửa soạn xong chưa?
Kathryn miễn cưỡng đáp:
- Xong
Nàng đặt ống nghe xuống, quay sang và gặp ánh mắt của Ellen nhìn thẳng vào. Một cái nhìn rất lạ mà lâu nay Kathryn chưa từng thấy ở con gái. Nàng vuốt nhẹ tóc con: - Ngủ đi con, khuya lắm rồi.
- Ai gọi vậy mẹ? Bố á?
- Không, bố ít gọi điện cho mẹ. Người khác, bạn mẹ. Thôi, ngủ đi.
Bé Ellen vẫn tò mò:
- Phải cái ông hồi chiều vẫn gọi?
Thì ra Kelly vẫn kiên trì gọi từ chiều, lúc nàng không có mặt, cũng may là không có William ở nhà.
Kathryn cố dỗ cho con ngủ trở lại, bởi lúc này hơn lúc nào hết, nàng cần yên tĩnh để suy nghĩ. Mọi quyết định thiếu chín chắn sẽ đưa tới những sai lầm, điều mà nàng không bao giờ muốn. Đối với Kelly thì người cũ, nàng đã có với anh ta 7 năm hạnh phúc, cho đến khi nàng gặp William và sống hẳn với anh này. Ellen là kết quả của 4 năm chung sống với Williams- và cũng là bốn năm tồi tệ nhất trong cuộc đời Kathryn. Thế rồi cách 6 tháng, Kelly đã trở lại như một bóng ma hiện về. Anh ta khoe là sau bao năm lưu lạc ở miền Bắc, đã tạo dựng một số vốn lớn, và anh ta nghĩ đến nàng, như lời anh ta nói: “Xa em cũng chỉ vì anh yêu em. Trong lúc không lo nổi cho em, nên anh chấp nhận ra đi và quyết tâm có ngày trở về đưa em ra khỏi cảnh khốn khó…”.
Kelly đã đề nghị với nàng một cuộc ra đi, đến Perth, và ở đó hai người sẽ làm lại cuộc đời. Kelly không ân hận gì khi bỏ Williams, bởi gần đây anh ta đã hư đốn, rượu chè be bét lại đang dan díu với một gái nhảy. Chỉ tội cho Ellen, con bé chỉ xoắn lấy mẹ, mặc dù cha nó có lần đã ngỏ ý muốn đưa về ở gần chỗ anh ta làm – Williams là một nhạc sĩ, thổi trompette cho một ban nhạc ở vũ trường.
Chuông điện thoại lại reo. Lần này Kelly đã không còn kiên nhẫn:
- Em không thể chậm được nữa, Kathryn ạ. Vé máy bay anh đã mua trước, đã dặn ở quầy vé Sydney, em cứ ra đó là đi ngay. Em nhớ lời anh dặn rồi chứ: thoa thỏi son đó lên môi, rồi đi thẳng tới chỗ Williams đang chơi nhạc, gọi anh ta ra ngoài hành lang, hôn anh ta, từ biệt, nói là em đi thăm bố mẹ đang ốm nặng. Thế là
đủ, với bệnh nghiện rượu nặng, chất độc trong son môi của em sẽ giết chết anht a trong vòng nửa giờ sau đó. Trong khi ấy thì em đã ở trên bầu trời…
Kathryn phải hứa để cho Kelly yên tâm gác ống nghe. Xong nàng soát lại thỏi son mà Kelly đã đưa từ ba hôm trước. Và sau cùng, nàng gọi con dậy:
- Dậy, đi với mẹ. Ellen ngạc nhiên:
- Đi đâu giờ này, mẹ?
- Tới chỗ bố con làm. Đi thăm bố, con chịu chứ?
Hai mẹ con ra khỏi nhà với một chiếc va li nhỏ. Trên taxi, Kathryn lấy thỏi son, thoa lên môi…
Kelly sốt ruột, anh dõi mắt nhìn từng người bước ra từ phòng kiểm tra hành lý của phi trường, suốt nửa giờ vẫn không thấy bóng dáng của Kathryn đâu. Thường thì hành khách rời hết phòng kiểm tra sau khi máy bay đáp xuống trong vòng nửa giờ. Các hành khách đi đã bắt đầu vào thế chỗ những người đến.
Chẳng còn kiên nhẫn, Kelly bước tới quầy điện thoại, quay số của Kathryn ở Sydney. Chuông reo rất lâu, chẳng có ai nghe. Chứng tỏ nhà đã đi vắng cả. Đã 12 giờ đ
êm. Giờ này thì chỉ còn có chuyến bay từ Melbourne, chớ từ Sydney tới thì mãi đến 5 giờ sáng mới có.
Làm gì bây giờ? Kelly tự hỏi và đã tự trả lời bằng cách trở lại quầy vé, anh đặt tiền lên quầy và bảo:
- Cho tôi một vé đi ngay chuyến này, đến Sydney.
Phi cơ cất cánh sau đó nửa tiếng. Kelly dự tính sẽ tới nơi vào khoảng gần 1 giờ sáng, từđó anh sẽ tới nhà Kathryn, hoặc một nơi nào đó để tìm, nếu không gặp nữa cũng còn thì giờ trở lại phi trường đón Kathryn, nếu nàng đổi chuyến bay, đi chuyến sáng sớm mai. Nhất định phải đưa Kathryn đi cho bằng được, đến Perth. Và nếu cần, giúp cho Kathryn một tay, hạ bằng được Williams.
Lúc lên phi cơ rồi, Kelly vẫn còn nghĩ tới cuộc thanh toán tình địch. Việc anh ra xúi Kathryn thoa thỏi son có chất độc dị ứng với rượu trên môi, là vì biết chắc lúc nào Williams cũng sẵn rược trong người, cho anh ta hôn và gục chết tại sân khấu là việc không một ai nghi ngờ, cho là anh ta ngộ độc rượu…
Cơn buồn ngủ kéo tới đột ngột, có lẽ do ảnh hưởng nhiều giờ căng thẳng chờ đợi ở phi trường, làm cho Kelly rất khó khăn để cưỡng lại. Cuối cùng anh ta phải gọi một chai Whisky loại nửa lít. Chỉ có rượu mới chống cơn buồn ngủ một cách hữu hiệu, đồng thời cũng là một cách ăn mừng thành quả mà chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, Kelly sẽ thu hái được.
Nốc một hơi cạn nửa chai rượu, đầu óc lâng lâng, đầy sảng khoái, Kelly ngả lưng vào ghế nệm, nhắm mắt lại, nghĩ về những ngày sẽ sống ở Perth…
Xe taxi của Kelly vừa đỗ thì cùng lúc một taxi khác cũng đỗ lại cạnh đó. Từ trên xe Kathryn và con bước xuống, dáng hấp tấp, hơi hốt hoảng. Kelly hỏi dồn:
- Tại sao em không đi?
Kathryn vừa kéo tay Ellen đi, vừa giải thích:
- Williams đã được đưa vào bệnh viện. Em phải…
Kelly nói như reo lên:
- Tốt rồi! Anh ta sẽ…
Anh ta ngừng lại giữa chừng khi bắt gặp ánh mắt nhìn chòng chọc của con bé Ellen. Đồng hồ điểm ba giờ trong phòng khách. Kathryn ra dấu để cho nàng dỗ con bé ngủ xong sẽ nói chuyện. Kelly lặng lặng ngả lưng ở chiếc ghê sofa, chờ đợi… Sự chờ đợi lúc này không nặng nề như ban chiều, bởi vì cái tin William phải vào bệnh viện đã đủ để cho Kelly hài lòng. Địch thủ coi như đã bị khử.
Mười lăm phút sau Kathryn trở ra, trông nàng mệt mỏi, uể oải. Nàng ngồi xuống cạnh, ra dấu xin Kelly điếu thuốc. Anh chàng không kiềm ch
ế được xúc cảm, choàng tay ôm ghì lấy Kathryn, rồi đẻ ngửa nàng ra, nàng ú ớ muốn nói gì đó, nhưng Kelly đã như con thú dữ say mồi, càng miết đôi môi của mình gắn chặt vào môi người vợ cũ. Hơi rượu từ miệng anh ta toả ra hình như đang làm cho Kathryn ngột thở…
Câu mà trong lúc ú ớ Kathryn định nói là: “William đã không kịp hôn em, vì trước khi em tới vũ trường thì anh ta đã ngất do quá say, được đưa vào bệnh viện…” Nhưng, giờ đây không còn kịp nữa rồi, nụ hôn với son môi có chất độc dị ứng rượu, đáng lý dành cho Williams, thì Kelly đã nhận về phần mình. Anh ta lại uống khá nhiều rượu, nên đã hôn mê ngay khi vừa gỡ nụ hôn ra.
Tại bệnh viện, khoảng nửa giờ sau Kelly đã chết. Trong khi đó, Kathryn lại nhận được tin: Williams đã tỉnh lại sau hơn 4 giờ hôn mê.
Kathryn chết lặng.
Tác Giả: Doreen Clark
Đoàn thanh tra sắp đến làm việc tại sở thú, con sư tử bỗng lăn ra chết. Người trông chuồng sư tử lo quá bèn lột bộ da của nó rồi đóng giả con vật xấu số. Sư tử giả đang đi lại trong chuồng, chợt một con báo đến bên khiến hắn ta sợ rúm người, con báo nói:
- Đừng sợ, mình là thủ quỹ đây, cậu còn thuốc lá không? Con voi đằng kia hút sạch gói thuốc của mình rồi!
1758
Có một người bị một mũi tên bắn cắm vào đùi, mời thầy lang ngoại khoa đến chữa. Thầy lấy dao cắt bỏ phần mũi tên ở ngoài. Làm xong đòi tiền. Người nhà hỏi: - Còn phần cắm sâu vào thịt, thầy chưa lấy ra kia mà? Thầy nói: - Tôi chữa ngoại khoa, còn cái đó thì xin mời thầy nội khoa.
Bóng đêm biếc thở đều hơi gió mát
Chung quanh ta im lặng đã buông rèm
Gió xa quá, trời xuân êm bát ngát
Biết lời gì nói hết được yêu em
Một phút vắng chất đầy muôn nỗi nhớ
Bảy hôm xa đem lại một giờ gần
Mắt giữa mắt nhìn nhau vui nức nở
Lòng bên lòng, chân cũng luyến bên chân
Em có đôi tay, anh cầm tất cả
Anh chỉ một lòng, em đã chiếm riêng
Bóng êm ái phủ đầu nghiêng vai ngả
Môi giao hòa trao viên ngọc thiêng liêng....
Sao muôn chấm cứ mơ hồ tỏa mộng!
Anh đưa em vào nghỉ giữa lòng đêm
Giữa lòng anh tơ giăng như mắc võng
Em nằm đi - anh ru giấc êm đềm....
996
Tết đến, em có còn nhớ lớp ?? Tết đến, ăn mứt me chua lưỡi Tết đến đừng xoè tay, ngượng nhé !! Khoá vào cặp nhốt mười sáu tuổi
áo dài thơ, hay váy đầm xoè ??
Mặc áo dài?? Anh đeo kính cận
Còn diện đầm ?? Anh... mắt đỏ hoe
Hay nhớ gì đâu trước cổng trường ??
Nhớ lớp ?? Anh biến thành trái thi.
Còn nhớ gì đâu, anh biến... luôn !!
Cắn hạt dưa đỏ chót môi cười
Trời đất sinh ra chi tiểu muội
Để năm nào anh cũng... "eo ơi !!"
Cái đuôi sau gót quá là dài
Khỏi cần tập soi gương e lê.
Lì xì anh một sợi tóc mai
Lỡ mai em "bẻ gãy sừng trâu"
Thì chắc anh biến thành chú Cuội
ôm cây đa bay tuốt lên... lầu !!!
Chiếc quan tài ấy đặt trên tấm phản, giữa một túp nhà xiêu. Một người đàn bà, quần áo nâu bạc, ngồi phệt ở bên, úp mặt vào cánh tay khoanh cạnh ván thiên, thỉnh thoảng hé vuông vải nhỏ mới, ghé ra ngoài xỉ mũi xuống nước. Gần đó, một thằng bé con, chỉ mặc một manh áo rách, thò cái gậy tre vừa đẵn, nghịch với những tăm bọt sủi trên mặt lượt bùn.
Bỗng bốn người đóng khố, lực lưỡng, đẩy chiếc mảng chuối áp đến hè, rồi cùng nhau vào, khỏa chân để rửa, nói mấy câu, và đứng lên phản, bắt tay vào cỗ ván.
Họ còng lưng, ưỡn ngực, để khênh cho thăng bằng. Song, họ không thấy nhọc nhằn, vì chiếc áo quan ấy nhẹ quá. Nó bằng gỗ tạp, lỗ chỗ những vết mọt đen, mỏng vừa một đốt ngón tay. Họ chép miệng, phàn nàn với nhau, thương hại anh Cu xấu số, khổ cho đến lúc chết, chết ngay vào độ trời làm vỡ đường.
Mảng chuối chở chiếc quan tài lềnh bềnh theo tay bốn người đẩy ra cổng. Chị Cu trùm khăn lên mặt, khóc thảm thiết. Cứ cả quần áo thế, chị lội bì bõm, đi sau chồng.
Giá không có mảnh vải trắng che mặt, đố người lạ nào bảo chị là người nhà người chết. Và giá không có tiếng khóc, đố ai đoán là ngoài đường có đám ma. Thằng Cu thì chẳng biết gì. Nó thấy người ta ghé lưng, bảo nó ôm cổ để cõng. Nó ngơ ngác làm theo, hình như thích chí vì được đi lội.
Bốn người đẩy mảng, dò từng bước. Đi dưới nước đã chậm, thế mà đường lại trơn. Những bọt nước tóe bắn lên, làm tắt cả hương. Mấy cây nến cắm trên khúc chuối, bị gió, không sao cháy được. Người ta đã nhiều lần thắp lại cả hương lẫn nến, nhưng vẫn tắt như thường.
Xung quanh, làn nước đỏ mênh mông, từ sáng đến bây giờ, mỗi lúc lên một cao. Chị Cu gào mãi nên rát cổ. Chị phải thôi khóc. Và cố bấm đầu ngón chân xuống đất, cho khỏi ngã.
Mực nước chỗ thấp thì đến bẹn, chỗ cao thì đến thắt lưng hoặc đến ngực. Cả làng chỉ còn có mỗi một nơi cao nhất, là khu giữa vườn nhà ông Lý, may quá, chưa bị ngập. Cho nên ngay từ khi anh Cu ngáp cái sau cùng, chị Cu phải kiếm cơi trầu lên xin với chủ đất, để nhờ chỗ chôn chồng. Ông Lý thương hại, vui lòng nhận lời, lại khuyên chị nên đưa ngay anh Cu "ra đồng" kẻo chỉ một giờ nữa, vườn ông cũng tràn nốt. Thật thế, cả làng, hiện nay chỉ có khu vườn ấy là hở. Còn thì từ ngoài đồng cho đến khắp các xóm, chỗ nào cũng những nước là nước. Nói đúng ra, giữa đồng cũng còn vài ba cái gò là còn nổi lên. Nhưng những đường ra đấy, từ khi mới có tin vỡ đê, tuần đã chặt tre rấp ngang lối, vít kín cả lại rồi. Chỉ còn một lỗ con con chui khe luỹ, người ta vẫn đánh trâu qua để thả cho nó bơi đến các gò, đứng nắng và ăn bèo Nhật Bản, thì lối ấy nhỏ quá. Vả trừ trâu ra, ai dám bơi qua những nơi ruộng sâu đến một con sào.
Chiếc mảng lênh bênh độ một lát, thì quàng vào ngõ xóm Trung. Tuy đường hẹp, nhưng lối đi cao dần. Nước đến thắt lưng, sau đến bẹn, rồi sau đến đầu gối. Rồi sau cùng, mảng chuối chịt lại, mắc cạn, không đi được nữa.
Người ta ghé tay bê áo quan. Chị Cu vác vồ cuốc lên vai, đi theo. Nước rẽ qua những cẳng chân đen thủi, kêu rào rào, tóe bọt trắng sang hai bên.
Chị Cu giục mọi người mau tay lên, vì chị lo ngại quá.
Quả nhiên, mới từ nãy đến giờ, nước đã láng gần khắp vườn nhà ông Lý. Chỗ đất vừa đào cách đây độ một giờ đã có những dòng nước ngòng ngoèo bò theo nơi thấp, và rỉ vào, ngập đến lưng huyệt.
Bốn người rảo cẳng, rồi đặt quan tài xuống. Họ nhảy vào hố, hai tay bốc nước, thoăn thoắt tát ra. Nhưng vô ích. Nước ra bao nhiêu, lại vào bấy nhiêu. Mà nước vào lại mạnh hơn nước ra. Tát cũng không kịp.
Bốn người thất vọng, bảo nhau khênh bốn góc cỗ ván. Hai người tiến, hai người lui, rồi cùng đứng ngay ngắn ở hai đầu huyệt. Họ cúi lưng, đưa thấp dần dần tay xuống. Chiếc quan tài hạ từ từ. Cảnh đau đớn làm chị Cu đứt từng khúc ruột. Chị muốn khóc cho hết nước mắt, gào cho hết hơi, để được chôn theo chồng. Nhưng bỗng chiếc quan tài đứng sững lại, không xuống được nữa. Nước ở dưới đội nổi lên. Tiếng khóc im bặt.
Bọn người nhìn nhau lo sợ. Lúng túng. Làm thế nào? Bàn tán hồi lâu, hai người nhảy xuống, đứng ở hai đầu áo quan để lấy sức nặng, thì nó mới chìm được. Nhưng nước vào huyệt đã nhiều, nên khi người ta vừa nhảy xuống, nước ở dưới dềnh lên, tràn qua ván thiên. Quan tài như chiếc thuyền đáy phẳng, nó bập bềnh. Hai người mất thăng bằng, ngã khuỵu, thụt cẳng xuống huyệt.
Cách ấy không được. ỳ ộp, mỗi người nói ra một kế. Chỉ làm sao thắng nổi có mỗi một tí nước, mới chôn được dễ dàng. Chị Cu tưởng tượng đến chồng bị ngâm sũng, chị thút thít, kể lể, thương con người đến chết còn vất vả.
Chẳng mấy chốc, chiếc quan tài vì nhẹ, lại tự nhô lên đến gần mặt đất. Cả huyệt đầy những nước mất rồi. Bây giờ mới là lúc khó khăn. Họ vẫn luẩn quẩn bàn bạc.
Sau hết, ba người phải lấy lưỡi cuốc, hếch kẽ ván cho nước ồ vào thực nhiều và cùng nhau đứng về một đầu cho sức nặng đủ dận được xuống đất. Một người lấy vồ chêm vào thành huyệt, ghì chặt lấy. Một người cuốc đất, và chị Cu khuân vội vàng, vứt xuống hố. Thấy thây chồng đầu cao đầu thấp, chị đau đớn lắm. Nhưng biết làm thế nào?
Họ lèn đất vào thành huyết và áo quan, rồi quẳng những tảng to lên trên. Cho đất đủ sức dìm một đầu quan tài, họ lại đứng sang đầu bên kia. Và cũng làm như trước. Họ thở ì ạch, khó nhọc như một cuộc vật lộn. Khi cỗ ván đã bị chèn chặt hai đầu, họ bèn rủ nhau lên, để hết sức đào đất cho nhanh chóng mà quẳng xuống. Nhưng họ vừa bước chân khỏi, cỗ áo quan đã bềnh lên theo. Song, được cái nó không nổi cao quá. Biết rằng sức phấn đấu có công hiệu, họ huỳnh huỵch làm một lúc nữa thật mau. Chiếc quan tài lần này chịu nằm gí xuống tận đáy huyệt.
Bây giờ họ đã đỡ vất vả. Chỉ còn việc đắp đất lên cho thành nấm mà thôi. ấy thế mà khi ngôi mả đắp vừa xong, nước đã láng vào khắp vườn, không còn hở một chỗ nào nữa.
Những con giun đất màu đen to bằng ngón tay út nổi lềnh bềnh, dập dềnh theo đà sóng, trôi với đám bọt rác.
+
+ +
Một giờ, lại một giờ. Mực nước lên cao dần, cao trông thấy.
Xung quanh mả anh Cu, có những lá tre khô bám vào. Rồi có bèo Nhật Bản. Rồi có cả bọt rác nữa. Thứ này bám vào chốc lát, rồi bị sóng lôi đi. Thứ kia ôm lấy nhau, nhảy nhót, chạm óc ách vào nấm đất mới đắp. Nước dập dờn liếm mãi vào khe những mảng đ%
E11239
Trong phòng triển lãm hình điêu khắc theo lối lập thể, con người bụng lớn, ngực lép, mặt mày méo mó không ra hình dáng gì cả; có hai bà tỏ ý thắc mắc với nhau:
Cái ngữ này mà để lại về sau con cháu mình nó sẽ nói tổ tiên nó như thế đấy. Đẹp chưa.
2827
Bà Đà thường đi làm từ sáng sớm, chiều chạng vạng mới về. Chiếc khăn thâm trùm cách nào đó mà bịt kín cả gáy cả cổ, ngoài cái khe rất nhỏ dành cho hai con mắt lấp loáng nhìn rạ
Dẫu là một người đẹp lộng lẫy mà trùm bịt như thế cũng thành khó hiểu, huống chi bà Đà là con người có thân hình cứng cỏi, vai ngang dáng đàn ông, mà tính nết cứ mưa, nắng, nắng mưa luân chuyển nhau không ngừng.
Chiều nào không thấy đồ nghề của ông Đà - chiếc gánh toòng teng một bên đựng bốn, năm hòn đá mài các loại, và một bên là cái chậu đồng sứt vành dùng đựng nước - để ngoài hè, bà Đà liền rít lên:
- Mất thây mất xác ở đâu giờ này chưa chịu vác mặt về!
Còn như, nếu thấy ông Đà ngồi hút thuốc lào trên cái giường do mấy tấm ván thùng kê sát nhau, việc đầu tiên của bà Đà là lấy từ chiếc túi xách ra chai rượu, thuồi xuống trước mặt ông, kèm theo một lời đay đả:
- Này mồ hồi của tôi đấỵ Nước mắt của tôi đấỵ Nốc đi!
Không mấy khi bà để cho ông uống rượu suông, mà thường có thêm vài thứ nhắm đạm bạc; miếng đậu phụ bôi nghệ nướng lem nhem, một miếng vó bò quăn queo như vỏ cây, năm thì mười họa còn có quả trứng vịt lộn hoặc bộ lòng gà.
Mỗi tội thức nhắm càng ngon, ông Đà càng phải nghe nhiều lời nhiếc móc của vợ.
- Đội thúng than từ xà lan lên bãi được mấy, ông biết không? Ba hào! Thế mà một quả trứng vịt lộn những năm đồng. Không nhờ cái đận phát tiền năng suất thì có khối ra đấy mà hốc. - Bà Đà vừa nói chồng sa sả vừa móc túi lên vách, cởi khăn trùm, nhen bếp, bắc nồi, lấy gạo đi vo... Công việc thoăn thoắt trôi chẩy qua đôi bàn tay ngấm bụi than đen kịt của bà.
Chai rượu trước mặt ông Đà cạn, vừa lúc bà Đà bưng mâm cơm lên, hai vợ chồng cùng ăn. Bấy giờ bà Đà dù có nói trời nói đất, ông Đà cũng không lấy làm điều, thậm chí ông còn thấy khoái nữạ Nhịn đói suốt ngày, mỏi rạc cẳng đi diễu qua các phố xá, được nhấm chút rượu là chất men chạy rần rật như kiến bò mười đầu ngón tay ngón chân và làm tê dại mang tai ông, khiến người ông lâng lâng.
Tuy vậy đã vài bận ông Đà xô cả mâm cơm xuống đất rồi xông vào bà vợ khốn khổ mà đấm đá túi bụị Đó là những lần bà Đà nhiếc ông là giết chết con để ăn một mình cho sướng mồm.
Cánh đàn ông hàng xóm tuy không phải là lũ ác bụng nhưng đều đồng thanh ủng hộ ông Đà thẳng tay trừng trị bà vợ tai quáị
- Thế! Giã nữa!
- Vợ tôi mà thế tôi tẩn nhừ xương!
- Đem mà trôi sông cái của nợ ấy đi!
Trước sự "chi viện" nhiệt tình ấy, ông Đà quắc mắt đáp lại:
- Việc nhà tôi, ai mượn các ông chõ vàỏ Người ta khổ quá rồi phải để người ta nói cho hả bớt cái khổ đi chứ!
Nói vậy nhưng sau mỗi lần xô xát, ông Đà sợ, không dám nhìn vào mặt vợ mấy ngày liền.
"... Cái năm Nhật kéo sang ta, ông Đà đương làm anh chân sào trên một chiếc thuyền đinh bề thế chẳng kém ngôi nhà ngói năm gian. Cứ bẩy ngày một lần ông chủ lại chất đầy gạo, muối, dầu tây, vải, lụa lên thuyền, cho nhổ sào ở bến Lục Dầu để ngược lên mạn Đồng Trâu, Hố Sếu, qua Ngàn Trâu Danh, lên tận Bãi Thảị Đến Bãi Thải, nhiều khi dỡ hàng xong không kịp nghỉ, đã nhận khách vội vàng để bắt con nước trở xuôi luôn.
Cánh chân sào thuyền gồm mười tay trai lực lưỡng, năm người chạy be tả, năm người chạy be hữụ Công việc bao giờ cũng bắt đầu từ phía mũi thuyền, hai hàng người nhất tề lao phập những cây sào trẩy dài đầu bịt sắt xuống lòng sông, đuôi sào tỳ vào hõm vai, một người cất giọng: "Bớ dô hò..." chín người kia "dô huậy", mặt nước trước mũi thuyền rẽ thành hai làn sóng trắng hình mũi tên, mấy người chân sào cúi gầm mặt, gò lưng bước xuôi để con thuyền nặng nề lao ngược dòng. Tới đuôi thuyền, tất cả lại nhất tề rút sào, trở về đằng mũi, và lại bắt đầu đúng y như thế.
Một buổi sáng thuyền về đến bến Lục Dầu, hành khách chen nhau qua mảnh ván cầu để lên chợ, có một cô gái cứ quẩn quanh dưới khoang. Đà bước lại gần cô, cất tiếng hỏi:
- Nhà chị này có hàng nặng, không ai đỡ, hử?
- Không không - Cô gái giật mình hoảng hốt - Tôi có hàng gì đâu!
- Sao còn loanh quanh mãỉ
Cô gái bỗng òa khóc:
- Tôi sợ...
- Sợ gì?
- Sợ người ta đón bắt tôi trên ấỵ..
Đà hiểu ngay ra tình thế của cô gái:
- à. Lại trốn chúa lộn chồng chứ gì? Phải thế cứ nói thật thì tôi giúp...
Việc nên vợ nên chồng giữa hai người đã bắt đầu một cách rất đơn sợ Tới năm giáp khởi nghĩa, gặp nạn đói khủng khiếp, khắp nơi người chết xếp chồng đống thì đứa con trai đầu lòng của vợ chồng ông Đà đã biết chạy lon ton theo bố mẹ đi xin ăn.
Vợ chồng ông Đà dẫn cu Thấn - tên đứa con - phiêu dạt từ Phả Lại lên Bắc Ninh, Bắc Giang, rồi quay xuống Hà Nộị Họ uống nước lã cầm hơi nằm ở sân ga một đêm, một ngàỵ
Tối hôm sau bà Đà nói với chồng:
- Cái chết là cầm chắc rồị Nhà xem còn cách nào cứu lấy con?
Ông Đà lẳng lặng đứng dậy bỏ đị Ông vào một cửa hàng ăn trước cửa ga đèn điện sáng trưng, đứng xòe hai bàn tay đợi hồi lâu không thấy ai cho mình chút gì. Ông đành liều thò tay vào thúng bún của chị chủ hàng, chộp một nắm. Nhưng ông vừa quay ra được vài bước, chưa xuống khỏi vỉa hè, đã ngã sấp mặt vì một cái ghế ném theo đúng giữa lưng. Vốc bún trên tay ông, không hiểu bị những người ăn mày chung quanh xô lại cướp hay bị chủ hàng giật lại lúc nào ông không haỵ
Lê lết về được chỗ vợ con nằm, ông Đà nghĩ ra được một kế để họa may cứu sống được bé Thấn. Ông bế nó đến giữa chỗ đông hàng quán nhất, cắn con một miếng chảy máu ở má rồi bỏ nó lại, vùng chạỵ
Suốt mấy chục năm, từ thời Nhật rồi Việt Minh, rồi Pháp tạm chiếm, tới ngày thủ đô được giải phóng và mãi tận bây giờ bà Đà trở thành công nhân ở cảng than, còn ông Đà vẫn chỉ làm độc một cái nghề đi mài dao thuệ
Chẳng ai nghĩ chuyện làm giầu bằng cái nghề nhỏ mọn nàỵ Nhưng với ông Đà thì lại không thể bỏ mà tìm công việc khác. Ngoài cơm gạo ra, vợ chồng ông còn phải nuôi sống lẫn nhau bằng một nguồn hy vọng. Sáng sáng, ông quẩy chiếc gánh nhẹ tênh, một bên đá mài một bên chậu nước, thả bước đến khắp mọi ngõ ngách trong thành phố, gặp bất kỳ người đàn ông trai tráng nào vào trạc tuổi bé Thấn năm xưa ông cũng nhìm chằm chằm vào bên má phải của họ.
Bé Thấn "khi xưa" giống mẹ nhiều nên nó cao lớn, vai hơi ngang, mắt lá răm, khi cười có một lúm đồng tiền ở bên má bị bố cắn, chắc là thành sẹọ
Hai mẹ con giống nhau ở cái dáng đi lúc nào cũng vội vàng "chân không bén đất".
Ông Đà tin vào câu tục ngữ "trai giống mẹ thì khó ba đời". Nếu trời để bé Thấn qua cái nạn đói kinh sợ ấy mà còn tới ngày nay, may mắn nó chỉ đủ tay vo miệng lốm như bố mẹ nó là cùng. Vì vậy, hễ thấy có người đàn ông nào ăn mặc sang trọng lại có chút gì hao hao giống vợ mình là ông run lẩy bẩy vì hồi hộp. Ông như bị thôi miên, chân chạy theo, mắt nhìn, miệng lắp bắp: "Lạy trời! Biết đâu!..." Dĩ nhiên lát sau ông Đà lại ỉu xìu và tự nhủ: mình mơ tưởng thế làm gì, nên để mắt vào đám làm thuê làm mướn, chữa xe đạp, đánh xe trâu, quạt bễ lò rèn, gác cổng, thợ nề, thợ mộc... thì hơn.
Chẳng bao lâu kể từ khi ông Đà cất tiếng rao "Mài dao, mài kéo đây", ông đã có cả một đội ngũ bạn "áo ngắn" rải rác từ Gia Lâm xuống tới Ngã Tư Vọng, từ dốc Vĩnh Tuy lên tới làng Láng, làng Cót. Ông lân la nhờ các "chiến hữu" tìm thằng cu Thấn hộ mình. Những đứa trẻ bị cha mẹ bán, hoặc bị cha mẹ bỏ đường bỏ chợ trong nạn đói ất Dậu tới nay còn nhiều lắm, họ đều đã phương trưởng và đã có bố mẹ anh em gặp lại nhaụ Duy có thằng cu Thấn màu da trắng, vai hơi ngang, và có nốt răng của bố để lại trên má, chưa ai gặp.
Ông Đà vẫn rong ruổi qua các phố xá nội thành, cả những làng ngoại ộ Buổi sáng, vợ chồng ông mỗi người mỗi ngả ra khỏi nhà với chút hy vọng cầu may, để rồi buổi chiều về thấy căn nhà lợp giấy dầu vẫn trống lạnh như xưa, làm bà Đà lại nổi tam bành, nhè ông chồng mà trút hết những lời cay độc.
Lâu dần hàng xóm đâm quen. Đám đàn ông thôi làm hậu thuẫn cho ông Đà "thi hành những biện pháp cứng rắn" đối với bà. Vài người phụ nữ vô công rồi nghề cũng thưa dần câu chuyện về bà trong những cuộc ngồi lê đôi mách. Mặc dù, khi tuổi mỗi ngày một nhiều thì sự căng thẳng giữa vợ chồng ông Đà lại càng ngày càng khó gỡ hơn.
Một ngày chủ nhật, bà Đà ở nhà một mình, ông vẫn quẩy gánh đi như mọi khị Thoạt tiên bà lẩm bẩm nhiếc móc cho riêng mình nghe, sau đó ngọn lửa ma quái xông lên ngực bà, thế là bà bỏ hết mọi việc ngồi ghé mép giường mặc sức réo tên ông ra mà nguyền rủạ
"Cứ vác mặt về đâỵ Chuyến này thì bà xé xác!" - Bà tuyên án vắng mặt ông như thế, và nhăm nhăm đợi mặt trời chóng lặn để ông "vác mặt" về.
Bà Đà chẳng phải đợi lâụ Xế chiều hôm ấy ông Đà đã lử khử quẩy cái gánh thợ mài dao về. Ném cho bà một nắm tiền lẻ toàn loại năm xu, một hào, rồi ông đi nằm. Bà Đà thấy chồng khang khác, không những đã quên những lời đay nghiến được mài dũa suốt từ sáng, bà còn sờ tay lên trán ông. Người ông Đà nóng chín, làm bà Đà cuống cuồng. Mấy chục năm nay, đây là lần đầu bà Đà nói ra những lời dịu dàng với chồng:
- Nhà ơị Tôi nấu cho nhà bát cháo đậu xanh ăn cho nó giã sốt, nhé?
Ông lắc đầu, mắt vẫn nhắm nghiền. Bà lại vuốt ve bộ râu lởm chởm bạc gần hết trên cằm ông.
- Dậy tôi bảo này! Chịu khó uống chén rượụ Nhé? Nhà bị cảm nắng đấy!
Ông Đà thương vợ, ứa hai hàng nước mắt. Ông muốn ngồi dậy nhích nhắc tay chân cho bà vui, nhưng sức ông đuối quá rồị
Sáng hôm sau thì ông "đi". Bà Đà bật ngọn điện tù mù ở giữa nhà, ôm lấy thi hài ông mà lay, lắc, nhày nhã như đang đánh vật. Lúc đã kiệt sức mà vẫn không sao làm cho chồng sống lại được, bà Đà rú lên:
- Ông ơi là ông! Chai rượu tôi mua còn kiạ Từ nay mua cho ai uống nữa hở trời!
Tiếng khóc xé ruột gan của bà Đà cất lên từ lúc còn tối đất. Nghe giọng bà, hàng xóm ngỡ ông bà lại xảy ra chuyện gì, nhiều người lẩm bẩm rủa bà vài tiếng rồi lại ngủ. Mãi lúc nghe kỹ, biết ông Đà đã chết, mọi người mới choàng dậy chạy túa sang.
Xưa nay cái cảnh góa bụa vẫn thường xảy ra cho loài ngườị Nỗi đau dội lên, uất lên một thời gian rồi dịu dần. Sự quên lãng là một trong những bản năng tự vệ giúp cho con người tồn tại được.
Nhưng hình như ở bà không có cái "bản năng tự vệ" ấỵ Liền mấy tháng, đêm nào bà cũng kêu thét gọi ông suốt từ đầu hôm đến sáng. Trời thì đã sang đông, gió lạnh từ mặt sông Hồng thổi thốc vào căn nhà giấy dầu thủng tan hoang do chính tay chủ nhân của nó xô, đập, cào, xé.
Sang tới mùa xuân, giữa lúc cỏ cây đến con người đều xanh tươi trở lại thì bà Đà chỉ còn da bọc xương. Một đêm không nghe tiếng bà kêu thét, sáng hôm sau hàng xóm chạy sang đã thấy bà nằm bất tỉnh giữa những mảnh chăn rách, trên mình chỉ một tấm áo dệt kim đã mốc meo và chiếc quần bảo hộ lao động bạc phếch.
ở bệnh viện người ta hết lòng cứu chữa cho bà Đà. Vài ngày sau, bà tỉnh lại biết thều thào cảm ơn những người hàng xóm đã mang cam, mang đường và luân phiên vào chăm sóc bà.
"Khổ đến thế. Con người cay cực suốt đờị Khi cái sung sướng nằm trong tay thì lại lăn ra chết" - Cả khu phố bờ sông tới nay mỗi khi nhớ đến bà Đà, bà con lại chép miệng nói thế.
Số là, ở nơi bệnh viện bà Đà nằm cấp cứu, có một bác sĩ trưởng khoa tên là Dũng, tuổi xấp xỉ bốn mươi, vai hơi ngang, nước da trắng và đôi mắt dài rất linh lợị Một lần, khi bà Đà đã qua khỏi cơn nguy kịch, bác sĩ Dũng đến khám bệnh cho bà theo thường lệ trong ngàỵ Bác sĩ bảo bà tháo áo để đặt ống nghe vào ngực bà. Anh đang chăm chú nghe tiếng tim dội thì thụp tự dưng bà già cứ nhổm người vừa nhìn sát mặt anh vừa sờ lên vết sẹo trên má anh. Bảo bà nằm yên mấy lần không được, bác sĩ Dũng phát bực gắt:
- Cụ làm sao thế!
Bà già không trả lời bác sĩ Dũng mà thét lên một tiếng: "Con!" làm cho cả phòng bệnh giật mình. Rồi bà tắt thở. Mọi cách cứu chữa của bệnh viện đều vô hiệụ
Khi phải tự thú nhận mình hoàn toàn bất lực, bác sĩ Dũng ngồi cạnh bà Đà, ôm mặt khóc rưng rức.
Dũng là con nuôi của một cán bộ trong quân độị Ông có tới sáu người con, thêm Dũng là bảỵ Những khi gia đình tụ hội, con cháu chật nhà, ông vẫn kín đáo dành riêng cho Dũng chút chăm sóc đặc biệt. Tuy nhiên, càng lớn lên Dũng càng thấy mình đang âm thầm ngóng đợi một con người, dù sớm muộn thế nào sẽ có một ngày con người ấy tìm ra anh...
Nhiều năm về sau, vào những ngày giỗ ông bà Đà, bác sĩ Dũng thường đưa vợ con về thăm những gia đình hàng xóm của ông bà, và thế nào anh cũng có quà đến thăm hỏi những người là bạn "hạt gạo cắn đôi" của bà Đà hiện đang nghỉ hưu trong khu tập thể của cảng.
Những người bạn của bà Đà đều gọi Dũng bằng con, và đối xử với anh đúng như cách xưng hộ Mặc dù bà Đà không còn, nhưng tình thương bầu bạn bà để lại vẫn còn khắp nơi nơị Ngày nay hễ nhắc đến bà là những người bạn già của bà lại nghẹn ngàọ
Họ kể rằng: vào tiết đông và tiết xuân, lòng sông Hồng cạn rặc, những cồn cát nổi vờ vờ bên dưới mặt nước lắng trong dần dần, ấy là những ngày trời đất gió thổi vô hồị Cứ sáng ra, những người công nhân phát khổ lên vì những ngọn gió lạnh như dao cắt vào da thịt. "ấy nhưng mà cháu ạ - Các bà già nói với bác sĩ Dũng - cái buổi sáng mẹ cháu "đi", trên mặt sông cũng như trên bến cảng, trời bỗng dưng lặng phắc, không một hồi gió.204
- Hôm qua mày nói chuyện với nhỏ Lan, nó có nói gì về tao không?
- Có, nó khen mày đẹp trai, con nhà giàu, viết chữ bự, học dở, ở dơ.
- Mày mặc quần "dzin" này trông bụi quá trời!
- Ủa, bụi đâu? Trước khi mặc, tao đập phành phạch vào cột nhà rồi mà?!
- Ê Lan, sao mày nghỉ chơi với nhỏ Liên vậy?
- Trời ơi, mày biết hông, tao mời cái gì nó cũng ăn hết á!