Tia Nắng Hoàng Hôn
Kim Chi và Ngọc Diệp là đôi bạn rất thân với nhau. Tính đến nay đã gần bốn chục năm qua. Hiện tại hai bà sắp vào tuổi lục tuần. Tuy cả hai không cùng mẹ cha, cũng không cùng quê quán. Mà số phận lại tương tựa như nhau. Thật là một sự trùng hợp hiếm có trên cõi đời !
Kim Chi sanh ra trong một gia đình điền-chủ khá giả, vùng Gia-Định ngoại ô Sàigòn. Còn Ngọc Diệp thì sanh trong một gia đình phú-hộ ở miệt Long-Xuyên thời còn Pháp thuộc.
Vào khoảng đầu thập niên một ngàn chín trăm năm mươi. Lúc đó Ngọc Diệp và Kim Chi mới lên sáu bảy tuổi mà đã chịu cảnh mồ côi. Hai bé sống với các anh chị trong nhà. Nhưng đau đớn thay ! Hai đứa nhỏ lại không được tình thương yêu trìu mến của anh chị cũng như giòng họ. Bao nhiêu cảnh vô phước cùng cực nhứt đời. Nó luôn luôn phủ lên đầu của hai đứa bé còn thơ dại. Cả hai từng ăn những chén cơm chan bằng máu và nước mắt. Quần áo thì chẳng được ấm áp mà lại còn bị mắng nhiếc, roi đòn bủa xuống và đày ải vô cùng cực nhọc.
Thân xác bé nhỏ mà phải gánh chịu bao nỗi nhọc nhằn. Mặc dù khổ cực như vậy. Hai đứa bé bắt buộc phải ở lại sống nương nhờ trong gia đình các anh chị. Vì tuổi còn thơ và còn nhỏ quá, biết phải đi đâu bây giờ ?
Ngày tháng năm trôi hơn mười năm sống lây lất và cam chịu nỗi nhọc nhằn. Nhưng rồi cả hai đều thoát ly lên Sàigòn sống kiếp bụi đời sương gió.
Ngọc Diệp và Kim Chi quen nhau, là sự ngẫu nhiên. Bởi hai cô mướn phòng gần nhau và chung một Building... trên đường Tự-Do quận nhứt Sàigòn. Từ dạo ấy họ kết tình bạn với nhau.
Suốt mười mấy năm sống kiếp phong trần gió bụi trên đất Sàigòn. Ngọc Diệp và Kim Chi nếm đủ mùi vị của đời. Đến lúc lớn khôn, làm ra tiền. Hai cô trở về thăm lại gia đình và cung phụng cho đám cháu, con của các anh chị hai cô.
Thời gian trôi chảy, Ngọc Diệp đi theo tiếng gọi ái tình. Nàng qua Pháp với người yêu. Nhưng chẳng may, không đầy một năm thì người tình của nàng bị cơn bạo bệnh mà qua đời. Ngọc Diệp phải sống bơ vơ giữa thủ đô Ba-Lê.
Cả năm sau miền Nam Việt Nam thất thủ vào tay Cộng-Sản Bắc Việt. Kim Chi ‘’đu’’ được một người đàn ông Việt dân Pháp giúp nàng thoát khỏi Sàigòn.
Thật là thương đau ! Định mệnh không chịu buông tha cho kiếp ''Hồng Nhan Bạc Phận'' ! Sóng gió lại nổi lên và đưa đẩy Kim Chi với vị ân nhân ấy phải chia tay.
Ngọc Diệp và Kim Chi tình cờ gặp lại nhau trong buổi văn nghệ do những người Việt Tỵ-Nạn tổ chức tại rạp Maubert quận 5 Paris. Hai cô gặp lại nhau lòng mừng vô hạn. Kim Chi rủ Ngọc Diệp về ở chung, và cùng đi xin việc làm ở mấy tiệm của người Việt. Nhưng chẳng được việc. Cuối cùng hai cô phải bước chân vào ''Rừng Đêm'' đầy chim muông, thú dữ của thù đô ánh sáng Ba-Lê để tranh thủ mà tìm sự sống.
Bấy giờ tuổi đời của hai nàng gần kề tứ tuần. May thay, vào một đêm trời xanh mây biếc, trăng sao lóng lánh sáng ngời, Ngọc Diệp gặp người đàn ông Thụy Sĩ hết dạ thương yêu và cưới nàng làm vợ. Hơn một năm sau, Kim Chi cũng được một chàng ''Quân tử'' yêu thương nàng hết mực. Tuy ''già nhân ngãi, non vợ chồng''. Nhưng chàng lo lắng cho Kim Chi một cuộc sống tương đối đầy đủ.
Gần hai mươi năm, Kim Chi và Ngọc Diệp sống an phận với những sợi tơ tình muộn màng ấy. Bấy giờ hai bà đã chán ngán sự đời, bởi sống quá nhiều và cũng nếm biết bao điều đau khổ phũ phàng cũng như những vị ngọt bùi, cay đắng. Nên không còn ham muốn gì thêm nữa, ngoài cái việc : "ngày qua ngày, chờ qua đời mà thôi".
Nhưng... trời chiều, bóng xế... Trong lòng của hai bà ngập tràn nổi lên tình thương nhớ quê hương. Chắc chắn là đồng tâm trạng của hằng triệu đồng bào Việt Nam đã ly quốc từ bấy lâu nay.
Ôi, quê hương Việt Nam ! Việt Nam là nơi chôn nhau cắt rún là mảnh đất quê nghèo, là nơi chúng ta từng nếm bao mùi vị vui buồn trong những năm tháng của ngày xa xưa. Dù chúng ta sống trong hoàn cảnh nào đi nữa, thì không ai có thể quên hẳn được quê hương của mình...
Vào đầu thập niên 1990. Có hằng loạt người Việt trở về thăm quê hương và gia đình. Trong đó có Ngọc Diệp. Bà về Sài-gòn được mấy tuần, thì vội đi tìm mua một căn appartement nho nhỏ gần khu chợ Tân-Định, nhờ người bà con đứng tên dùm. Mua xong, Ngọc Diệp sửa sang trang hoàng lại căn nhà cho đầy đủ tiện nghi để khi nào bà về mà có chỗ ở. Còn những tháng bỏ trống thì cho ngoại kiều mướn ngắn hạn.
Lo căn nhà xong, Ngọc Diệp trở lại Thụy Sĩ. Bà luôn nghĩ đến Kim Chi.
Buổi sáng cuối mùa thu, thời tiết lành lạnh, bên ngoài mưa rơi lác đác, lá rụng đầy đường, thân cây trơ cành trọi lá. Trông thật là buồn hiu hắt !
Kim Chi đang nhìn trời qua cửa sổ, lòng nghĩ ngợi xa xăm. Chợt tiếng chuông điện thoại reo vang, bà đến nhấc lên :
- A-lô ! Xin lỗi, ai vậy ?
- Hì hì... Tao đây nè !
- Cái gì vậy... Mụ ?
- Ê, về Việt Nam ăn Tết với tao không... Mụ ?
Hai bà đều cười ngất trong điện thoại. Kim Chi nói :
- Tao muốn về thăm gia đình tao lắm... Nhưng...
- Nhưng-nhụy cái gì ? Mầy còn các anh chị và một đám cháu đông như là vạn cấy. Theo tao thấy, là mầy nên về một lần đó Kim Chi à ! Về nghe Mụ... !
- Ờ, để tao tính lại. Tao sẽ hỏi mượn nhà băng và xin chàng Quân Tử coi có chút gì không nha !
- Thế nào cũng được mà !
- Nè, có gì thì tao sẽ cho mầy hay sau.
- Để tao sẽ về trước, rồi mầy bay về sau nha !
- Ờ, nếu tao đi, thì đi cỡ vài tuần là tao phải trở lại đây.
- Sao mầy không ở một vài tháng ?
- Trời ơi ! Không được đâu Mụ ‘’Suisse’’ ơi !
- Nè, thôi ráng thu xếp đi nha. Bye bye nghe ...!
- O.K. Má nó ơi !
Sau khi Kim Chi nói chuyện điện thoại cùng Ngọc Diệp. Bà suy nghĩ suốt ngày. Qua hôm sau Kim Chi lo đi mượn nhà băng. Mượn được ba chục ngàn quan. Chàng ‘’Quân Tử’’ tặng thêm một chút và nàng gom góp tiền dành dụm cộng chung tất cả được cỡ năm chục ngàn quan Pháp. Nàng đi xin visa và mua vé máy bay xong xuôi cùng lo mua thuốc men đem hờ về rủi bị bệnh hoạn bất tử.
Ngọc Diệp đi trước Kim Chi vài tuần. Sau đó Kim Chi cũng lấy ''Air-France'' bay về.
Ngồi trong máy bay mà lòng của Kim Chi vô cùng hồi họp, xúc cảm lạ thường. Sau gần hai mươi năm mới được trở về quê hương yêu dấu.
Khi nghe cô chiêu đãi viên nói : "máy bay đang vào không phận Việt Nam và thời tiết bên ngoài nóng ba chục độ." Tim Kim Chi đập mạnh, và khắp cả thân người toát mồ hôi lạnh, nước mắt rưng rưng. Một xúc động chưa từng có trong lòng nàng. Kim Chi đứng dậy lấy bộ đồ mát trong xách tay nhỏ đi vào toilette thay. Rồi trở lại ngồi ghế gài dậy nịch đàng hoàng, nàng cố trấn an tinh thần.
Chiếc máy bay ‘’Boeing-747’’ đáp x
uống phi-trường Tân-Sơn-Nhứt vào khoảng năm, sáu giờ chiều. Cửa mở, hành khách lần lượt đi xuống. Còn Kim Chi thì chần chờ đi sau chót. Nàng vừa đạp chân dưới đất, liền ngồi và khum xuống hôn trên mặt đất mà nước mắt bà tuôn rơi. Bà tự nhũ : - "Mình sự thật về tới nơi chôn nhau cắt rún rồi. Trời ơi ! Việt Nam quê hương tôi !"
Bà từ từ nối đuôi như mọi người, rồi đi lấy hành lý, điền giấy khai thuế, trình giấy thông hành... đi ra.
Kim Chi ngơ ngác tìm kiếm Ngọc Diệp. Đàng kia, Ngọc Diệp đưa tay quơ quơ và kêu lên :
- Kim Chi ! Tao đây nè !
Đi chung với Ngọc Diệp, có Gấm, cô bạn hàng xóm, và Cương, ông luật sư mà Kim Chi được quen biết trong lúc ông đi công tác tại Ba-Lê. Khi ông trở về Sài-gòn, sẵn dịp đó Kim Chi gián tiếp giới thiệu cho Ngọc Diệp, cho bà có người quen ở Sài-gòn, vì bà ít quen ai ở bên nhà. Họ tươi cười chào đón nhau.
Bốn người ra chiếc xe hơi hiệu Toyota màu trắng còn mới toanh của Cương. Cương lái xe trực chỉ chạy thẳng về nhà của Ngọc Diệp...
*
Qua ngày sau, Kim Chi nhờ cô Gấm đi đổi tiền quan Pháp qua tiền đồng VN. Nàng vội lấy xích-lô-đạp và ôm tiền về Gia-Định thăm các gia đình anh chị.
Kim Chi không mua gì cả, mà bà chỉ đem tiền về gọi là quà cáp. Phân phát cho một số người trong gia đình. Sau đó nàng được biết có cô cháu đang bị ở tù về tội lừa gạt tiền bạc của người ta. Kim Chi liền bắt tay lo liệu, đền tiền lại để cho cô cháu được ra khỏi tù.
Nhưng buồn thay ! Người chị dâu tham tiền. Chị ta muốn Kim Chi đưa tiền cho bà để bà trả góp từ từ mà phó mặc cho con mình ở tù. Nhưng Kim Chi không bằng lòng, bà cương quyết chuộc cô cháu ra.
Bao nhiêu năm Kim Chi xa cách gia đình. Ngày nay trở về lại vẫn bị bất đồng ý kiến trong gia đình.
Tiền bạc Kim Chi cho tặng các gia đình anh chị và lòng vòng những bà con và bỏ tiền chuộc cô cháu ra khỏi tù, mà còn bị người chị dâu thù ghét.
Thật buồn cho thân phận Kim Chi. Một đời người vô phước. Bà chẳng được một chút tình yêu thương trìu mến nào của gia đình quyến thuộc.
Sau một tuần Kim Chi cho tặng hết tiền bạc. Bà nằm ở nhà của Ngọc Diệp mà chờ đến ngày lấy máy bay trở lại Ba-Lê. Và trong lòng bà nói, nếu Cộng Sản còn cầm quyền thì bà cương quyết không trở về Sàigòn nữa. Bà chờ đến khi nào Việt Nam được thật sự Tự do - Dân chủ thì lúc ấy bà sẽ trở về ?
Còn gia đình anh chị và các cháu của Ngọc Diệp đều vượt biển thoát khỏi Việt Nam từ lâu. Vài người sinh sống trên đất Mỹ. Và vài người sống trên đất Pháp. Nên nàng không bận lòng mà cho tặng ai bên Việt Nam.
Sau chuyến về Sài-gòn thăm gia đình và quê hương, Kim Chi thấy chán nản sự đời hơn nữa. Vì cảm thấy gia đình đối với bà như người xa lạ. Nhưng tiền thì họ không chê. Mà còn định tìm cách gạt gẫm bà nữa. Thật ngao ngán tình đời !
Bà trở lại Ba-Lê và chỉ liên lạc thư từ với Ngọc Diệp. Hai bà thư cho nhau rất là thường.
Rồi lại cũng vào buổi sáng mùa thu có chút nắng vàng chói chang. Kim Chi nhận được thư của Ngọc Diệp và có gởi kèm theo một lá thư của người cháu trai con của người anh Cả từ bên Mỹ viết gởi qua. Kim Chi mở thư ra đọc :
"Los-Angeles, ngày... tháng... năm...
Cô Ngọc Diệp kính thương,
Đầu thư con kính thăm sức khỏe cô và dượng. Một lần nữa con rất cám ơn cô đã tỏ bày tâm sự của cô cho con nghe. Cô đã đặt hết lòng tin vào con. Con có nhận hai lá thư của cô và hai tấm ảnh của Trầm. Thư của cô thật dài và chứa đựng đầy sự đau khổ, bất công đối với một đứa trẻ mồ côi mới lớn. Con thật cảm xúc và đầy phẫn nộ trước hình ảnh của một đứa bé vừa lên sáu bảy tuổi bị đối xử quá tàn tệ.
Cô Ngọc Diệp ơi ! Con xin lỗi cô vì sự tò mò của con, mà làm cho cô trở về với quá khứ đầy đau khổ, làm cho vết thương của cô bấy lâu nay gần như đã lành. Nay nó bị loét ra trở lại.
Thật sự con không ngờ cuộc đời của cô là một chuỗi ngày đầy đau khổ ôm ấp một mình. Con cám ơn Chúa và Mẹ Maria đã nâng đỡ và che chở cô trong suốt thời gian qua. Thật là cô có tánh cương nghị, không khuất phục trước những cảnh khó khăn đau khổ, đã bao lần cô ngã xuống. Nhưng cô đã cố gắng một mình trỗi dậy và tiến lên từng bước đến ngày hôm nay. Đó cũng là nhờ sức chịu đựng dẻo dai của cô bấy lâu nay, nên giờ đây con mới hiểu được cô, biết được cuộc đời của cô, và ít nhiều về cô Ngọc Lan nữa.
Cô ơi !Trước những hình ảnh khổ đau của cô. Con cảm thấy cuộc đời trên trần gian nầy đầy bất công. Con có thể chấp nhận sự bất công của người lạ, của một xả hội đối với mình. Nhưng con chống đối sự bất công của gia đình, giữa tình anh chị em, thì đều đó con thật khó mà tha thứ được. Nhưng, tuy đời cô đã bị đối xử tàn tệ. Thật là cô có một trái tim bằng vàng, một trái tim bằng máu thịt. Cô biết đáp lại những sự đau khổ mà người ta đã làm cho mình, bằng cả một tình thương, bằng một sự tôn trọng quý kính.
Cô nói đúng lắm, vì luật Moĩsen không đúng. Là ai chặt tay mình, thì mình phải chặt tay người kia lại cho công bằng. Nhưng Chúa Jésus còn đi xa hơn trong tình yêu của Người đối với thế gian, Người nói : Nếu ai vả má bên phải mình, thì mình đưa má bên trái cho họ vả luôn. Đến nỗi Người đã bỏ mình trên thập giá chỉ vì sự kiêu ngạo của loài người.
Cô Ngọc Diệp của con ! Tình yêu của Chúa thật bao la, không có biên giới. Có lần Người đã nói một ngụ ngôn : Một người chăn một đàn cừu 100 con. Nhưng trong đó có một con cừu đen tự rả đàng đi một mình, người chăn cừu kia vì tình thương vô biên, và sợ loài thú dữ hiếp đáp con cừu đen, nên ông bỏ lại 99 con cừu ngoan kia mà đi tìm cho được con cừu đen đem về. Còn hơn nữa, ông đã vác con cừu đen trên vai mình mà lòng đầy vui sướng, vì đã tìm lại được con cừu đen.
Cô Ngọc Diệp ơi ! Tuy trong quá khứ của cô đã làm những gì mà gia đình và xã hội không chấp nhận. Nhưng tất cả những gì cô đã làm cũng chỉ vì là sự sống ‘’survivre’’ mà thôi. Trước tình yêu thương bao la của Chúa, với lòng biết hối cải ăn năn và sự tôn kính của cô đối với Thượng Đế, thì con chắc rằng cô được tha thứ, và các Thánh trên Thiên Đàng còn vui mừng khi thấy một người có tội lỗi hối cải hơn là 99 người kia ngoan không cần cải hối. Con không phải là người tinh trắng, con cũng không có quyền phán đoán ai cả. Mà con chỉ hy vọng ngày sau sẽ gặp cô trở lại, chắc chắn là không phải ở địa ngục, mà là ở một nơi không còn có sự đau khổ nữa. Đó là bên cạnh Thiên Chúa nhân từ và đầy lòng khoan dung.
Thật con không biết phải làm gì để giúp cô trong những lúc nầy, mà con chỉ biết bắt chước Thánh Thérès de Lisieux, nhưng con cố gắng cầu nguyện cho cô, cho cô Ngọc Lan và cho cả gia đình con, và cám ơn Thiên Chúa đã giữ gìn gia đình mình đến ngày hôm nay, tất cả đều bình an là điều tốt lắm rồi.
Cô Ngọc Diệp ơi ! Bây giờ con chỉ xin cô hãy để vết thương của cô từ từ khép lại. Con rất cám ơn cô đã cho con thấy một người tội lỗi, nhưng đầy lòng bác ái thương người. Một người đã từng vấp ngã, nhưng tự mình trỗi dậy. Một người đã bị mất trước cái nhìn của người đời, giờ vẫn là người đầy tình thương đối với tất cả tình anh chị em, với tất cả người gặp cảnh khó khăn.
Cô Ngọc Diệp của con ! Cho dù cô đã làm gì trong quá khứ, nhưng đối với con cô vẫn là cô của con, con vẫn kính cô như cô Ngọc Lan, như ba mẹ con. Con không hổ thẹn vì đã mang một dòng máu giống như cô. Mà ngược lại con rất vui vì được biết trong gia đình mình tất cả không phải là người dễ khuất phục.
Thơ khá dài, xin phép cô cho con dừng bút. Con hẹn cô thơ sau. và con không quên kính chúc cô và dượng được nhiều sức khỏe và vạn sự lành.
Cháu của cô
Lê Văn Vĩnh."
Kim Chi đọc bức thơ, mà bà cảm động đến rơi nước mắt. Bởi thương đời bạn và cũng thương cho thân phận mình. Nhưng Kim Chi không được cái diễm phúc là có người trong gia đình viết những lời lẽ an ủi và thông cảm như thế.
Vừa đọc xong bức thư Vĩnh, cậu cháu của Ngọc Diệp, Kim Chi thấy mình như được nhận chung một tia nắng hoàng hôn đang sưởi ấm cõi lòng cô quạnh lạnh lùng trong lúc nầy. Bà lấy những lời an ủi ấy mà đặt vào cho mình.
Được biết Vĩnh là người có ăn học, khoa bảng khá cao, và có một địa vị rất quan trọng trong xã hội nầy. Khá khen thay, cậu Vĩnh đủ can đảm hạ thấp mình và chấp nhận có một người cô như thế. Bởi vì có biết bao người từng ở một địa vị thật thấp. Nhưng nhờ dịp may, hay chiếm đoạt của cải ai đó, rồi họ được phất lên. Sau đó họ không đủ can đảm hạ trở xuống được, bởi sợ bạn bè cũ biết được dĩ vãng thấp hèn của họ. Vì thế mà họ cứ nhìn lên trên chứ không dám ngó lại xuống đất. Người xưa đã có câu : - "Giàu đổi bạn, sang đổi vợ". Còn bây giờ thì : "Giàu đổi bạn, sang đổi đủ thứ..."
Thế gian ta được làm người là may mắn lắm rồi. Còn giữa dòng đời thường gặp bao cảnh nổi chìm về địa vị cũng như vật chất. Nhưng ta ráng giữ vững một tấm lòng bao dung - đại lượng và bình đẳng với tất cả mọi người, để đến ngày nhắm mắt xuôi tay cho nhẹ nhàng linh hồn.
Suốt mấy ngày Kim Chi đọc đi đọc lại nhiều lần lá thơ của cậu Vĩnh. Mà lòng vẫn nghe ngậm ngùi, vui buồn lẫn lộn.. Rồi bà viết thơ cho Ngọc Diệp :
"Ba-Lê, ngày ... tháng... năm ...
Ngọc Diệp bạn già thương mến,
Tao nhận liên tiếp ba bốn lá thơ của mầy. Trong đó có một lá kèm theo thơ của cháu Vĩnh. Ý cha ! Mầy thật là có phước được cậu cháu có một tấm lòng bao dung đại lượng hết sức.
Tao đọc thơ ấy mà lòng cảm động đến rơi nước mắt mấy lần đó. Đọc thơ cháu mầy viết cho mầy mà tao cứ tưởng như cháu của tao viết cho tao vậy. Cho tao vui ‘’ké’’ với mầy nha bạn già ?
Nghe mầy muốn rủ tao trở về Việt Nam nữa. Sự thật lòng tao cũng xôn xao lắm. Nhưng Ngọc Điệp ơi ! Tao không đủ sức trở về. Vì từ tinh thần đến vật chất tao không có vững chút nào. Thôi thì cứ chờ một dịp nào khác, hoặc là kiếp sau cũng được.
Ngọc Diệp ơi ! Tao muốn nói với mầy nhiều lắm. Nhưng bất chợt bị nghẹt lại, bởi lá thơ của cháu Vĩnh lời lẽ còn chập chờn trong tâm hồn tao, mà tao không thể diễn tả bằng ngôn ngữ được. Mà nghe lòng âm ấm như một tia nắng rực lên của chiều hoàng hôn sắp lặn tắt vậy.
Những giây phút cuối đời mà được những lời lẽ của người thân chia sẻ và thông cảm như thế, thì được một an ủi lớn lao lắm cho cuộc đời quá khứ của chúng ta. Hãy xem như là ''tia nắng hoàng hôn'' chiếu vào phút cuối đời của ta nha bạn !
Thôi, tao tạm dừng bút nơi đây. Mặc dù lời tuy ít, nhưng nhiều ý... gởi đến mầy. Chúc mầy và Anh... được nhiều sức khỏe và thân tâm an lành.
Bạn già
Kim Chi"
Dù cho lá ngọc - cành vàng,
Kim Chi - Ngọc Diệp hoặc hàng chúa vua.
Nước trôi, lửa cháy đành thua,
Chỉ nhờ lượng cả trời đưa qua dùm.
Dẫu rằng mạc vận đường cùng,
Gặp cảnh nghèo khó cũng đừng trách ai.
Vững lòng ăn ở thẳng ngay,
Ông trời bù đắp có ngày vinh sang.
Thế gian sướng một, khổ ngàn,
Trước vui chốc lát, sau tràn buồn đau.
Chuyện đời thật quá ngán ngao,
Chỉ còn Tu sửa, chuốt trau Tâm lành.
Trong vườn hoa nhà thờ, linh mục đang đi dạo với một thương gia. Một giáo đồ trẻ đi phía sau. Câu chuyện giữa linh mục và vị thương gia có vẻ rất hấp dẫn, nhà buôn trả giá:
- 5 vạn đôla!
- Không được!
- 10 vạn đôla! Im lặng.
- Thôi được, 50 vạn vậy nhé! Linh mục vẫn không chấp thuận, vị khách lắc đầu rút lui. Giáo đồ trẻ vội bước đến trước mặt vị linh mục nói:
- Thưa cha, 50 vạn đôla là một con số không nhỏ đâu! Sao cha lại từ chối?
- Nhưng con có biết yêu cầu là gì không? Ông ấy đề nghị ta mỗi lần giảng đạo xong không nói "Amen", mà nói "Cocacola".
1421
Đáng lẽ tôi không nên dính vào những chuyện mà người đời thường gọi là bất chính. Tôi nói "đáng lẽ" bởi vì tôi thường dính vào. Và thường dính vào bởi tôi không biết phân biệt thế nào là bất chính. Tôi vẫn được cái mà nhà Phật gọi là vô minh, tiếng dân gian nôm na là dốt.
Cái dốt đó, tôi đổ thừa tại mắt kém. (Ai chẳng biết người sành sõi nhìn đời với con mắt tinh tường ? Mắt không tinh, sao tường được ?) Việt Nam mình mà mới bảy tuổi đầu đã phải mang kính là chuyện cổ kim hiếm cực kỳ. Chuyện bắt đầu từ một chiều đi học về, tôi ra vườn chơi với con bò đang gặm cỏ, vừa lúc nó phất cái đuôi. Bò mà, muốn phất đuôi lúc nào thì phất. Có phải người ta phất cờ khởi nghĩa đâu mà phải lựa thời cơ. Hậu quả là sáng hôm sau, cả nhà kinh hoảng tưởng đêm qua tôi hoá thân làm con gái qủy : hai hồ thu trở thành hai hồ máu. Hai hồ máu tròng trành chắc chắn hãi lắm !
Thôi thì hết thỉnh bác sĩ này tới thầy thuốc kia. Ai cũng cho vài ba món rồi chuồn. Bố mẹ phải cầu tới tiên tới thánh. Tiên thánh nhập vào cái ông ngồi giữa chiếu trước bàn thờ, đầu trùm khăn đỏ ủ chiếc khăn đóng bên trong. Chiếc áo dài the đen phần dưới nổi bật với chiếc khăn đỏ phủ xuống ngang lưng lắc lư nghiêng ngả, đũa cầm tay gõ gõ viết viết lên chiếc mâm đồng, ồn ào nhộn nhịp tạo cơ man hy vọng ! Bằng giọng lơ lớ âm dương, ông phán tôi lạy tất cả mọi người chễm chệ trên bàn thờ. Nào ông Tổ ông Tằng ông Cao ông Cố... Ai cũng với nụ cười nửa miệng, khinh khỉnh, thách thức sao sao. Và cái nhìn các cụ trông khiếp lắm : mình bước sang phải sang trái gì các cụ cũng trừng trừng rõi theo, ý muốn thấu suốt coi lòng mình có thực sự thành kính hay không ! Xong tôi uống chén nước lạnh mà ông tiên ông thánh đã huơ huơ đũa thần vào đấy. Rồi tiên thánh cũng chịu thua, vất đũa, thăng. Thường thì trước khi thăng, tiên thánh hay cười khanh khách, ta đây lắm, hất ông trùm khăn đỏ ngã lăn quay, chỏng trơ bất động hồi lâu. Nhưng lần này tiên thánh chỉ cười khúc khích (bởi vì không cười thì bớt vẻ "tiên" đi), không quên hất nhào cái xác phàm mình đã nhập vào, đủ hiểu tiên thánh cũng "tri túc", biết chắc lần này mình không thể biến hai hồ máu kia thành hai hồ thu trở lại. Ông Cao ông Cố vẫn tủm tỉm, nhưng có phần tẽn tò, ngại con cháu coi thường thực sự (rồi chúng nó sẽ chẳng thèm hoá vàng hoá bạc cho thì có mà... khất thực !). Bố mẹ héo hon. Tôi thì không nói ra chớ chẳng tơ hào buồn, tự nhiên được miễn ngày hai buổi tới trường, lại được chăm chút đặc biệt.
Anh con cậu, biết bố ghét dị đoan. Nhưng tới nước này thì cũng đành thủ thỉ thôi thì rước thử ông thầy pháp thầy gì gì đó. Cùng đường rồi, bố gật. Vừa bước vô sân, ông thầy phán "có gì đâu, anh em nó gặp nhau mừng nhau đó mà", rồi đặt bàn cúng ngoài sân và bảo phải làm cây cung với bốn mũi tên. Chị tôi lấy len cho bố làm dây cung.. Ông rầm rì dụ dỗ anh tôi gì đó (thầy pháp dụ ma như trai dụ gái) , xong bảo tôi bắn bốn mũi tên đi bốn hướng. Chẳng là anh Ba tôi chết non, chưa đầy tuổi. Chết non yểu thiêng lắm. Và vì đứng hạng nhì sau qủy nên có kiểu mừng của thế giới bên kia, thế giới bên này hơi bất mãn. Và dây cung mà bằng len thì bắn xa vạn dặm, hiệu nghiệm như một viên đạn du kích bắn chết một hơi bảy tên GI : sáng hôm sau thức dậy, mắt tôi xanh như mắt đầm. Cả nhà mừng hơn bắt được của (dĩ nhiên còn tùy của gì). Tôi thì cũng chẳng nói ra nhưng tiếc, biết là sắp tới ngày ôm cặp, và cũng chẳng còn lý do để cứ đôi mắt máu liếc tới đâu là y như toại nguyện cái ấy nữa. Sáu tháng sau, tôi bắt đầu mang kính. Người ta thường gọi quê tôi là nơi khỉ ho cò gáy, chớ nếu tỉnh thành thì chắc chắn tên tôi được thượng vào danh sách chuyện lạ bốn phương !
Để góp phần vào cái thị lực mong manh ấy, tôi rất ít nói, mà hễ mở miệng thì văn hoa bí hiểm. Người cho tôi tàng tàng (bố lờ đi, không nghe). Người (chắc là tàng tàng) thì cho tôi có máu thi sĩ (bố tủm tỉm, bảo con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Và không nghi ngờ gì lòng thủy chung của mẹ, bố nhứt định là tôi mang máu bố, chính thống). Ví dụ vào năm lên mười, đang ăn cơm, bất chợt tôi nhăn nhó với mẹ :
- Có người quyên sinh !
Cả nhà ngưng đũa, trợn mắt nhìn. Tôi gật gù tiếp :
- Trên sông. (Các đôi mắt vẫn không chớp) Bên đám rong rêu.
Bố thở dài. Con gái đã mang tật mắt lại còn dở hơi thì dù có đại tiện trên đống vàng cha mẹ cũng chẳng vui nào. Nhưng bố quên là tôi con nhà tông, mang máu bố, chính thống. Mẹ buông đũa ôm vai tôi :
- Ăn đi con. Chuyện thiên hạ ở đâu mà nói làm gì.
Tôi lắc đầu suýt văng cả kính :
- Nhưng nó muốn chui vào bụng con !
Có một đứa con như vậy thì phải biết lòng kiên trì của mẹ. Những sợi tóc mai chân trắng nghiêng xuống bên tôi :
- Ai mà chướng vậy, nói mẹ nghe.
Tôi chỉ vào chén canh, có cái gì lênh đênh. Bố sửa mục kỉnh, liếc, nhướng mày nhìn mẹ :
- Con ruồi, mẹ nó à !
Bối rối, mẹ vội lấy chén cơm tôi săm soi rồi kêu lên :
- Ruồi muỗi gì đâu, nấm hương đó con. Còn một cái bỏ thì tiếc, mẹ xắt bỏ vô canh. (Chép miệng) Con nhỏ mắt mũi đã vậy mà ông thì cũng chẳng hơn gì ! Thôi ăn đi con, có ai quyên sinh đâu !
Tôi thích ngồi trầm ngâm hằng giờ chẳng cục cựa, tịnh khẩu, mắt nhìn xuống. Mà hễ nhìn ai thì cứ chăm bẳm không chớp khiến thiên hạ rờn rợn với ý nghĩ dù tội từ tổ tông, dưới mắt tôi cũng sẽ phơi phới chưng ra. Người ta ơn ớn, muốn tìm mà chẳng hiểu nổi trong cái đầu tóc bum-bê kia chứa đựng phù phép gì. Và họ cho tôi giống bà già. Thì mới nứt mắt đã mang mục kỉnh, đã "nói chữ" ra gì thì có muốn trẻ e cũng khó. Ở trường tôi không có bạn gái. Tôi không thích bọn con gái chớ không phải mới nứt mắt đã ham trai. Vô lớp đầu giờ hay sau giờ chơi, ông cai luôn luôn dành cho tôi cái vinh dự đánh trống. Tôi cho đó là cách cảnh tỉnh chúng sinh, nhắc nhở tới lúc phải trở về với thực tại, với trách nhiệm, đừng lao mãi vào vũng lầy nhân loại (tôi ưa dùng chữ này lắm !). Giải thích vậy mà bọn con gái vẫn không hiểu tại sao tôi thích đánh trống ! Và tôi hỏi tại sao bọn con gái thích chơi trò cút kiếm. Bởi lần nào tôi kiếm cũng chẳng ra ai, mà trốn thì cứ bị bọn nó bắt gặp liền, lại bị úp mặt vào tường đếm tới trăm xong dáo dác đi kiếm, lại cũng chẳng ra ai, lại úp mặt vào tường đếm trăm... có gì thú vị ?
Trở lại, năm đầu tiên tôi lên trung học, chị tôi xin mẹ cho bạn là chị Điểm ở trọ, vì nhà chị Điểm mãi trong quê. Nhà lại quen chú Đạm, chẳng biết bạn ai. Bố thì lớn hơn chú nhiều, anh Hai thì đàn em quá trẻ, và chị em tôi thì gọi bằng chú. Chú Đạm tốt lắm, thường tới nhà chơi và ch1070
Có một lần, một nữ phóng viên Mỹ hỏi Albert Einstein:
- Giữa thời gian và vô tận có sự khác biệt nào?
- Cô gái ơi! - Nhà bác học với giọng đôn hậu trả lời - Nếu bác có thì giờ để giải thích cho cháu sự khác biệt đó thì sẽ là sự vô tận trước khi cháu hiểu điều đó!
2480
Thầy giáo:
"Em A, em thích làm gì mai sau?"
Học sinh A:
"Em muốn làm một nhà từ thiện."
Thầy giáo:
"Tư tưởng vĩ đại thật! Tầm nhìn rất cao. Cho thầy biết tại sao em mơ ước thế?"
Học sinh A:
"Vì nhà từ thiện là một người hết sức giàu có, giàu đến nỗi có thể nhắm mắt vung tiền khắp nơi."
1397
Một hôm, anh chồng phát hiện bụng vợ to hơn bình thường bèn hỏi:
- Anh đã mua thuốc tránh thai cho em rồi cơ mà?
- Em không uống, em muốn vợ chồng mình có thêm một đứa con nữa. Nói thật với anh, chỗ thuốc ấy em đem cho đàn gà ăn hết rồi.
Anh chồng giãy nảy lên:
- Giời ơi! Thảo nào mấy tháng nay đàn gà không đẻ được quả trứng nào...
1363
Có một ông quan võ, lúc nào cũng đeo khẩu súng bên hông, nhưng bắn rất dở. Có cái bia sau nhà, đứng cách có chục bước mà tập mãi, vẫn chưa trúng được phát nào. Có lệnh gọi ra đánh giặc ở biên thùy, ông ta mang lính đi. Vừa ra trận buổi đầu, đã thua. Quan bỏ mặc lính đấy, chạy tháo thân. Sắp cùng đường, bỗng có một vị thần ở đâu hiện ra, cõng quan chạy vào rừng. Biết mình đã thoát chết, quan mới hoàn hồn, hỏi vị thần kia: - Xin cho biết ngày ở đâu? Chẳng hay vì sao lại có lfong tối cứu tôi như vậy? Vị thầy trả lời: - Ta là Thần Bia ở trong vường nhà ông! Trong bấy nhiêu năm, ông nhân đức nên ta mới sống đến ngày nay. Bây giờ ông lâm nạn, ta cứu ông là để ơn trả nghĩa đền.
Bà vợ đang tình tự với bồ là lính dù. Bất ngờ ông chồng về. Chàng lính dù chỉ kịp nấp ngoài ban công. Vài giờ trôi qua, anh ta không thể thoát ra ngoài được, đành mở cửa phòng bước vào và nói:
- Xin lỗi vì đã làm phiền. Đang có diễn tập. Tôi nhảy dù và gió đưa đến ban công nhà này... Bà vợ tái mặt, lấm lét nhìn chồng. Ông chồng nói tưng tửng:
- Em đừng sợ, mấy hôm trước, trong buồng tắm nhà Peter, ông chồng còn nhìn thấy cả người thăm dò dầu khí nữa cơ.
2280
Tổng biên tập nói với một phóng viên mới:
- Một bài báo hay có thể so sánh với chiếc váy mặc trên người cô gái đẹp, nó phải đủ dài để che phủ được đối tượng, tuy nhiên, cũng đủ ngắn để kích thích trí tưởng tượng của độc giả.
Hai phóng viên nói chuyện với nhau:
- Đất nước chúng ta thật là dân chủ, không độc tài, không đảo chính, không phân biệt giai cấp...
- Khoan đã, cậu thử lấy một ví dụ về dân chủ xem?
- Này nhé, cậu đi từ toà soạn về, trời mưa như trút, đứng chờ xe buýt trong khi người ướt như chuột lột... Thế rồi tổng biên tập của cậu đi xe ngang qua, dừng lại đón cậu lên, tiện đường đưa cậu về nhà ông ta. Ở đó cậu được sếp hong khô quần áo cho, dọn bữa tối thịnh soạn mời cậu và mở một chai Cognac hảo hạng... No say rồi, trong khi trời vẫn còn mưa, sếp mời cậu ngủ lại tới sáng. Như thế có phải là dân chủ không?
- Có thật là tất cả những chuyện đó đã xảy ra với cậu?
- Thật 100%, nhưng xảy ra với em gái tớ.
Nhiếp ảnh gia chụp hết pô này đến pô khác cảnh hoàng hôn trên sông. Chợt một em bé chạy đến hốt hoảng báo:
- Anh ơi, có người sắp chết đuối!
- Thế à, tiếc quá, hết mất phim rồi.
2080
Có bốn anh chàng nọ tính thích làm thơ nôm, vì anh nào cũng hy vọng thành một "Thi nhân" để tiếng trên đời như Đỗ Phủ, Lý Bạch.
Một bữa nọ cả bốn anh đi chơi. Khi đến một cái miếu thờ Quan Công, trên bàn thờ có treo một bức tranh vẽ Quan Công ngồi giữa, còn một bên là ông Châu Xương, một bên nữa là ông Quan Bình.
Nhưng cả bốn anh, nào có biết là đền thờ ai, và bức tranh vẽ gì? Ấy vậy mà bốn anh cũng rủ nhau mỗi người làm một câu thơ để góp lại thành một "Bài thơ tứ tuyệt", kỷ niệm một cuộc đi chơi có tính chất phong nhã.
Tất cả cùng tán thành. Anh thứ nhất khởi đọc:
"Hán Vương ăn ớt mặt đỏ gay"
Anh thứ hai đọc tiếp:
"Một bên thái tử đứng khoanh tay"
Anh thứ ba trông thấy hình ông Châu Xương liền tiếp:
"Thằng nọ râu ria cầm cái mác"
Một bức tranh vẽ ba ông, mà ba anh đã đáp hết, còn anh thứ tư không biết làm sao. Anh nhìn mãi ở trên bàn thờ có hai con hạc bằng đồng đứng trên lưng con rùa, anh nào có biết là con chi chi, nhưng anh ta cũng tiếp ngay:
"Còn bên cò quắm đạp cà cay"...
Tất cả bốn anh cùng nức nở khen hay và ghép lại một "Bài thơ tứ tuyệt" ở trước bàn thờ Quan Vân Trường nhà Hán:
"Hán Vương ăn ớt mặt đỏ gay
Một bên thái tử đứng khoanh tay
Thằng nọ râu ria cầm cái mác
Còn bên cò quắm đạp cà cay".
2870
Ba nhà thầu tham dự đấu thầu sửa lại hàng rào Nhà Trắng. Người đến từ Florida sau khi đo đạc, tính toán cẩn thận nói:
- Tôi cần 900 đôla, 400 mua vật liệu, 400 trả công thợ, 100 cho tôi. Người từ Texas sau khi đo đạc cũng nói luôn:
- 650 đôla, 600 cho vật liệu và nhân công, 50 cho tôi. Người New York chỉ đứng hút xì gà, buông thõng:
- 2.650 đôla!
- Sao đắt thế! Thậm chí anh chưa đo đạc gì cả
- Người giao thầu kêu lên.
- Bé mồm thôi! Tôi 1.000, anh 1.000, còn 650 mướn gã Texas làm trọn gói.
2344
Năm nọ, ở thành phố Livơcpun bên Anh có một trận dịch tả. Có một người thủy thủ trẻ về thành phố sau một chuyến đi biển dài ngày. Anh gặp bao nhiêu người chết trong thành phố. Về đến nhà thì được tin con gái và con trai đều chết, còn vợ đang hấp hối. Anh rất yêu vợ và ôm vợ vào lòng:
- Em yêu, em sắp từ giả cõi đời rồi, anh yêu em lần cuối được không?
Người vợ gật đầu. Và không sợ lây bệnh, người chồng đã làm tình với vợ. Sau mười ngày chị vợ khỏi bệnh, đỏ da thắm thịt, xinh đẹp lạ thường. Vợ âu yếm chồng rồi nói:
- Anh yêu, anh đã cứu sống em.
Người chồng vẫn chưa hài lòng:
- ?n thua gì,, anh vẫn còn tiếc ...
- Tiếc gì kia anh?
- Nếu anh về sớm hơn, anh còn cứu được tất cả đàn bà con gái trong thành phố này!
1372