Một viện sĩ hàn lâm trông thấy một bức phác họa hình con cá của một họa sĩ vỉa hè liền hỏi:

- Theo anh thì đây là loại cá gì?

- Cá mập đấy, thưa ngài!

- Nhưng anh đã thấy cá mập bao giờ đâu? - Viện sĩ hỏi.

- Đúng vậy, - Chàng họa sĩ đồng ý - Nhưng thưa ngài, thế sao có mấy thằng cha ở Viện hàn lâm lại vẽ cả thiên thần được đấy ạ?1938




Ngày khai trường, Ông Hiệu trưởng Hoang Đường nói chuyện với tất cả học sinh của trường. Ông nói:

- Các em phải biết một điều, Đức là cái gốc của con người. Con người có thể thiếu tài nhưng không thể thiếu Đức. Xã hội tồn tại được là nhờ vào cái gốc, tức là cái đức.Tài có thể ví như cái áo, đức ví như cái quần. Không bận áo ở trần coi còn được, nhưng mặc áo mà chẳng bận quần thì khó coi ghê lắm.

1618









Từ độ quen nhau đã biết rồi
Nhìn em chỉ thấy nụ cười thôi
Trái tim dấu kín điều chưa nói
Ẩn những ân tình trên bờ môi

Ngọn lửa hồng phơi phới trong lòng
Thương em thương cả nét mi cong
Tình yêu đến tưởng như vô tận
Mỗi một ngày là một đợi mong
 
Đời vẫn đẹp nhưng không vĩnh viễn
Chiếc Lá vàng rơi ... ghế công viên
Trời không yên trong ngày mưa bão
Tiếng hát nào còn mãi ngàn sau
 
Đôi khi trộm nhìn em ta thấy
Đôi mắt thơ ngây đã đổi màu
Mái tóc buông lơi ngày son trẻ
Bỗng thành mây trắng thoáng bay mau
 
Cuối đời giấc ngủ không còn mộng
Trời vẫn xanh xanh mãi trong hồn
Bỏ lại đằng sau tình diu vợi
Hạt bụi mờ trong cõi hư không
2722




- Này Tý! Con đang dạy cho vẹt nói những từ bậy bạ đó hả?
- Không ạ, con chỉ bảo cho nó biết những từ không được nói thôi.



- Trong hai môn văn và toán, cậu thích môn nào?
- Văn.
- Vì cậu học văn khá hơn hả?
- Đâu có, tại cô dạy văn hay nghỉ hơn.



- Anh trai của em có 4 quả táo, anh ấy cho em 3 quả, hỏi anh còn mấy quả?
- Thưa thầy, anh ấy không bao giờ làm như vậy.


Hai anh em đang chơi trò trượt tuyết, mẹ hỏi thằng anh:
- Thế nào? Hai anh em chơi chung xe vui vẻ chứ?
- Vui lắm mẹ ạ! Chúng con phân công nhau: Em đẩy xe lên dốc, còn con trượt xe xuống dốc.

2439




Cái Cười Của Thánh Nhân
Tác giả: Nguyễn Duy Cần

Coi Bói


Nguyên bị đuổi, ba năm không được gặp vua, tận trí tận trung mà lại bị gièm pha che lấp. Lòng buồn ý loạn, không biết phải đi con đường nào, mới đến quan thái bốc trịnh Thiềm Doãn:

- Tôi có điều nghi, xin tiên sinh quyết hộ cho.

Thiềm Doãn sửa ngay lại cỏ thi, phủi bụi mu rùa, hỏi:

- Ông muốn dạy tôi việc chi?

Khuất Nguyên đáp,

- Tôi có nên khẩn khấn khoản khoản gìn giữ mãi một lòng trung, hay nên đưa đón theo đời để khỏi khốn cùng?

Có nên bừa cày hết sức làm ruộng mà nuôi thân hay nên giao du với người vinh hiển để cầu danh?

Có nên nói thẳng, không gì nể đến thân ngay, hay nên nói theo thói tục, cầu sang giàu để sống bê tha?

Có nên siêu nhiên xuất thế để giữ gìn thiên chân, hay nên nịnh nót khúm núm, xum xoe cười gượng để thời đàn bà?

Có nên liêm khiết, chính trực để được sạch trong hay trơn tru tròn trĩnh, như mỡ như da, để được như cây cột tròn?

Có nên ngang tàn như con ngựa thiên lý, hay nên lênh đênh như con vịt nước, cùng nhấp nhô với sóng mà toàn được tấm thân?

Có nên chạy đua với loài Kỳ, Ký, hay noi theo cái vết của loài ngựa hèn?

Có nên sánh vai với loài hàng hộc, hay nên tranh ăn với đám vịt gà?

Đường nào kiết? Đường nào hung?

Bỏ đường nào? Theo đường nào?

Đời hỗn trọc mà không thạnh thì cái ve là nặng mà nghìn cân là khinh, cái chuông vàng thì bỏ nát cái nồi đất thì kêu vang, kẻ gièm pha thì tên tuổi cao trương mà người hiền sĩ thì không tên tuổi.

Than ôi: Biết nói gì đây? Ai biết ta là trong sạch?

Thiềm Doãn đặt cỏ thi xuống, tạ rằng:

- Thước có khi lại ngắn, mà tấc có khi lại dài, vật có chỗ không đủ, mà trí có chỗ không sáng. Số có chỗ đoán không tới, mà thần có chỗ cũng không thông. Ông cứ theo lòng mà làm cho đúng ý ông. Cỏ thi và mu rùa, quả không thể biết được việc ấy
!
566








Lại một lần Qùynh vào yết điện, thấy chúa có nhiều tiền, trông sướng mắt, định vay.

Quỳnh khấn:
- Em độ này túng lắm, chị có tiền để không, xin cho em vay để em buôn bán, kiếm ít lời.
Nói rồi, khấn dài âm dương: "Sấp thì chia tư, chị cho em vay một phần, ngửa thì chia ba, chị cho một phần, chị mà thuận cho một nửa thì xin nhất âm nhất dương."
Thấy đằng nào Quỳnh cũng vay được, mà ý Chúa thì không muốn cho vay, vì biết được là cho vay, Quỳnh sẽ không trả, liền cứ làm cho hai đồng tiền quay tít, chẳng sấp mà cũng chẳng ngửa.
Quỳnh thất thế vỗ tay reo:
- Tiền múa Chúa cười,thế là chị bằng lòng cho em vay cả rồi!
Nói xong, vác hết cả tiền về.
2641




Vợ hỏi chồng:

- Xiếc hôm nay có vui không anh?

- Cũng hay, nhưng mà ảo thuật thì chán lắm!

Thế nào?

- Một cô gái trẻ đẹp bước ra sân khấu rồi đứng vào trong tủ. Nhà ảo thuật hô "biến". Khi mở tủ ra thì cô gái biến mất, chỉ còn lại quần áo.

- Thế sao lại chán?

- Giá như nhà ảo thuật làm ngược lại cho quần áo biến mất có phải hay hơn không.
1316




Bạn tôi mang thai vì bị cưỡng hiếp, nhưng cô ta can đảm giữ lại cái thai đó cho đến chín tháng khổ nhọc. Sau đó, cô y sanh ra một đứa bé trai vào tháng mười hai năm 1992. Lúc đó chúng tôi chỉ là bạn ở cùng phòng.



Khi sanh ra, đứa bé rất là yếụ Vừa chào đời, đứa bé phải vào phòng mổ để mổ tim. Bạn tôi thấy vậy nên nói với tôi rằng cô không thể chăm sóc một đứa bé bệnh hoạn như thế, nên tôi đ nhận đứa bé làm con nuôi và chăm sóc cho nó.



Ðứa bé ở trong bệnh viện được sáu tháng. Rồi, chúng tôi đem về nhà, nhưng đứa bé chỉ sống được thêm một tháng rưỡi nữa thì chết. Tôi rất là đau khổ vì tôi thương đứa bé thật nhiềụ Khi đứa bé chết, tôi đau lòng như là chính con ruột của mình chết vậỵ Tôi thường ra nghĩa địa thăm mộ đứa bé đến 4 - 5 lần mỗi ngàỵ Vì tôi nghe có người đồn rằng đừng nên vào nghĩa địa sau 4 giờ chiều vì sẽ quấy nhiễu người chết, cho nên tôi chỉ đến nghĩa địa thăm mộ đứa bé trước khi trời tốị



Nhưng một đêm, vì cái gì đó thúc giục tôi phải đi đến nghĩa địạ Ðêm đó khoảng mười giờ, tôi không ngần ngại lên xe và lái đến nghĩa địạ Mộ của đứa bé nằm ở ngay cổng trước, thường thường khi vào trong nghĩa địa tôi lái thẳng đến mộ của đứa bé và tắt máy ngồi ở trong xe chứ tôi không dám bước ra ngoài vì sợ thú hoang ở chung quanh (vì lúc trước tôi đã thấy một con gấu), vì vậy nên tôi ngồi trong xe và nhìn ngôi mộ đứa bé rồi thúc thít khóc. Ðêm hôm đó, nhằm ngày rằm nên trăng tròn sáng tỏ, vì vậy tôi mới mạnh dạn bước ra khỏi xẹ Bỗng nhiên, ngay khi ấ y, một vùng ánh sáng màu xanh dịu hiện ra phía trên ngôi mộ. ánh sáng màu xanh đó tỏa sáng khoảng năm thước ngay trên ngôi mộ của em và có hình dạng giống như chữ V lật ngược, nó đã chiếu sáng trong vòng mười phút. Lúc đó tôi không thấy sợ sệt gì hết, nhưng vì thấy hơi kỳ lạ cho nên tôi vội vã bước lên xe rời nghĩa địa ngay sau khi ánh sáng đó hiện lên chừng hai phút. Tôi lên xe và đề máỵ Tôi đề đến 5, 6 lần nhưng máy vẫn không nổ. Cuối cùng tôi đành ngồi đó trố mắt nhìn vì kinh ngạc. ánh sáng hiện ra trong vòng mười phút thì tan đị Ngay khi ánh sáng biến mất, tôi liền đề thử máy xe một lần nữa thì chiếc xe lại nổ máy được và tôi vội lái ra nghĩa địa liền.



Ðúng một tuần sau, khoảng tám giờ tối, tôi và bạn của tôi (người mẹ của đứa bé) cùng với bà chị của cô ấ y, đang ngồi trong phòng khách xem truyền hình thì tôi thấy chiếc nôi nhỏ, mà chính tay tôi đã chọn mua, đang lơ lửng bay trên không ngang qua phòng khách. Lúc đó tôi cũng không sợ gì cả, vì tôi nghĩ là đứa bé làm. Ngoài ra, vào một đêm giữa khuya khi thức giấc, tôi thấy đứa bé mặc bộ đồ khi chôn ngồi trên một đám mây, ngay dưới chân giường của tôi, bé đã mỉm cười với tôi rồi từ từ biến mất.



Tôi nghĩ tất cả những hiện tượng đó đều là dấu hiệu từ em muốn cho tôi biết rằng đừng có buồn phiền vì cái chết của bé, vì bé đã không còn đau đớn vì bệnh hoạn nữa
587




Chị vợ có chiếc quần láng đen đẹp lắm, không may hôm đến nhà cô bạn bị chó cắn toạc một miếng. Chị tiếc lắm, cứ xuýt xoa mãi là không có cái mụn đẹp như thế để vá, chị giặt sạch chiếc quần cất kỹ trong rương.

Đã hết mùa rét chồng gửi áo "Vec" về; vợ đem giặt, gấp nếp cất đi.

Khi giở áo ra, trong đó có một miếng vải đen hợp với màu quần của chị, chị sướng quá, nói một mình:

Quan tâm tới vợ hết mức, kiếm cả vải vá quần cho mình, xin ở đâu cái túi đựng gì mà khâu dài thế này lại đầu to đầu bé?

Kíp đến mùa đông sang năm, khi đưa chiếc áo cho chồng, chồng hỏi:

Cái cavát đen của tôi đâu rồi?

Cavát là cái miếng vải dài ấy chứ anh?

Còn gì nữa?

Thế thì bỏ mẹ, em đã vá quần từ năm ngoái.

2772





Cô là một thiếu nữ xinh đẹp, dáng dấp đài các, cao sang, nhưng trớ trêu thay định mệnh lại chọn cho cô vào một gia đình công chức tầm thường. Không của hồi môn, thì làm sao có duyên cơ gặp gỡ đàn ông giàu có, danh giá, để được tìm hiểu, yêu đương rồi đi tới hôn nhân? Thế nên cô chấp nhận về làm vợ của một anh lục sự “thường thường bậc trung” tại bộ thông tin.
Tài chánh không cho phép cô ăn diện, và cô lấy làm phiền lòng vô cùng, như thể mình từ một địa vị cao rơi xuống. Dung nhan diễm lệ, dáng dấp kiêu sa, chẳng là những yếu tố khắc phục thứ bậc, tầng lớp mà số phận đã an bài? Tài năng thiên phú, bản năng nhận thức, một đầu óc thích nghi có phải là đẳng cấp duy nhất? Cũng đúng đấy thôi, nhiều người đàn bà dân giả được sánh ngang hàng với những mệnh phụ danh giá nhờ nhan sắc, trí thông minh và phương cách giao tiếp của họ.

Thế nên cô nàng Mathilde nhà ta luôn buồn đời. Đàn bà đẹp như cô sinh ra là để tận hưởng những cao sang, thanh lịch của cuộc đời. Cảnh nhà nghèo nàn làm cô tủi thân, tường trống không, bàn ghế xục xịch, màn cửa thô thiển. Những gì mà một người đàn bà cùng giai cấp như cô, chẳng mảy may bận lòng, là những mối ưu phiền cho cô . Hình ảnh người đàn bà nội trợ với công việc thường ngày làm cô chán nản, thất vọng, và Mathilde thay bằng những giấc mơ cao vời. Cô hình dung đến những căn phòng yên áng, tường phủ bằng thảm Ba Tư ấm cúng, cao sang, phản chiếu ánh sáng từ những cột trụ bằng đồng sáng loáng, lại có hai anh hầu quần ống chẽn ngủ gà ngủ gật trong ghế bành lớn vì hơi nóng của lò sưởi. Cô trông thấy những hành lang rộng thênh thang, trang hoàng bằng những giải lụa cổ, các kệ tủ xinh xắn tràn ngập vật dụng xinh đẹp, vô giá. Tiếp chuyện cùng các cô, các bà phải là những căn phòng khách thơm mùi nước hoa, và cũng là nơi mà những đàn ông danh giá, lịch thiệp lui tới, những đấng mày râu mà các cô, các bà nào cũng muốn gặp gỡ, và ao ước được họ lưu ý tới.


Tối tối, ngồi đối diện chồng tại bàn ăn, trải cùng tấm khăn từ ba ngày qua, cô dửng dưng nhìn anh, tay mở liểng, miệng thốt lên sung sướng: “À, món hầm tối nay coi ngon quá, anh nghĩ chẳng có điều gì hấp dẫn hơn.” Lúc ấy cô liên tưởng đến những bữa ăn thịnh soạn, với muỗng, nĩa bạc, tường phủ thảm thêu hình các nhân vật cổ xưa, hoặc những con chim kỳ thú trong ngôi rừng thần thoại, bàn ăn bày biện đủ các thức ngon vật lạ, dọn trên những bát dĩa tuyệt đẹp, thực khách chuyền tai nhau những lời hoa mỹ, và được đáp lại với nụ cười mỉm bí mật, tay gắp miếng cá tươi tắn, hồng hào, hay bỏ vào mồm cánh bồ câu dòn tan.

Áo dạ hội, nữ trang đắt tiền là những món mà cô yêu thích nhất, thế mà cô chẳng có lấy một thứ nào! Phụ nữ đẹp như mình sinh ra là để diện những thứ đó vào người cơ mà, cô nghĩ thế. Cô ước ao được người người chiều chuộng, ganh tị, được đàn ông tán tỉnh, khen thưởng. Cô có một chị bạn gái giàu có, quen thời cùng học nội trú, mà giờ cô chẳng còn muốn gặp nữa, vì mỗi bận ra về cô lại cảm thấy buồn. Có bận cô đã khóc mấy ngày liền vì chán nản, thất vọng.

Bỗng một chiều nọ, anh chồng về nhà, mặt mày rạng rỡ, tay cầm một phong bì lớn.
- Đây, em nè, anh có cái này cho em

Trong phong bì là một thiệp mời với những giòng chữ:
"Bộ Trưởng bộ Thông Tin và bà Georges Ramponneau hân hạnh đón tiếp ông và bà Loisel tại dinh bộ trưởng tối thứ hai ngày 18 tháng Giêng"

Lẽ ra phải vui mừng, như chồng mong mỏi, cô lại vứt tấm thiếp lên bàn và bảo:
- Anh muốn tôi làm gì với tấm thiếp này chứ?
- Cưng, anh lại tưởng em sẽ vui chứ! Em chẳng bao giờ đi ra ngoài, và đây là một cơ hội em ạ. Anh phải mất nhiều công lao mới được thiệp mời. Ai cũng muốn đi dự buổi tiệc này; họ chọn lựa kỹ lắm, không phải ai cũng có được đâu. Tất cả những ông bà lớn đều có mặt hôm ấy.

Cô nhìn anh với cái nhìn khó chịu, vội cướp lời:
- Vậy thì anh tính em sẽ bận cái gì chứ?

Anh không nghĩ đến điều này. Anh lắp bắp:
- Thì cái áo em hay bận đi coi kịch với anh đó. Áo ấy trông được lắm!

Anh ngưng ngang, chưng hửng, bối rối vì thấy cô vợ đang khóc. Hai giòng nước mắt lặng lẽ rơi từ khoé mắt xuống bờ môi xinh đẹp. Anh lúng túng:
- Gì thế, em sao thế ?

Cố gắng dằn niềm đau khổ, cô trả lời bằng một giọng bình tĩnh sau khi đưa tay lau hai gò má ướt:
- Chẳng có gì cả. Em chẳng có áo đẹp, vì thế em không thể đi dự buổi dạ tiệc được. Anh hãy đưa tấm thiệp mời này cho bạn đồng nghiệp nào ở bộ, mà cô vợ có đủ quần áo hơn em.

Lúng túng, anh vớt vát:
- Nào, nào, Mathilde. Xem nào, một cái áo đẹp, để đi dạ hội, mà em có thể xài vào những dịp khác, một cái áo thường thôi, tốn khoảng bao nhiêu tiền?

Nghĩ ngợi một đôi giây, trong đầu làm vội những con tính, một con số khã dĩ không bị từ chối ngay hay gặp phải phản ứng thảng thốt từ anh chàng lục sự cần kiệm này. Cuối cùng, cô trả lời, giọng ngập ngừng:
- Em cũng không biết rõ, nhưng em nghĩ một cái áo đẹp chắc khoảng bốn trăm francs.

Mặt anh hơi tái đi, vì anh đã để dành đúng khoảng tiền như thế để mua một khẩu súng săn, dự định cùng đám bạn đi bắn chim chiền chiện tại đồng bằng Nanterre trong vụ hè tới.
Thế nhưng anh nói:
- Cũng được. Anh sẽ cho em bốn trăm francs. Mà em ráng mua một cái áo đẹp nhen!

Ngày dạ tiệc đến gần kề mà mặt bà Loisel trông vẫn có nét buồn, lo lắng. Áo nàng thì đã may xong. Nhận thấy điều này, một tối anh hỏi:
- Có điều gì không? Ba ngày nay sao anh thấy em có vẽ lạ, không được vui?
Nàng trả lời chồng:
- Phiền một nỗi là em chẳng có một bộ nữ trang nào cả, chẳng có lấy một viên đá để mang lên người. Coi nghèo nàn làm sao! Chẳng thà đừng đi cho rồi!
- Em có thể cài hoa lên tóc, anh chồng đề nghị. Vào mùa này mà cài hoa thì sang lắm em ạ. Thêm mười francs thôi em có thể mua hai, ba hoa hồng thật đẹp!
Lời anh nói không thuyết phục được cô:
- Không, không được. Chẳng có điều gì nhục nhã bằng mình trông nghèo nàn bên cạnh những người đàn bà giàu sang.
- Ồ, sao em dốt thế! Anh chồng bỗng kêu lên: “Em có bà bạn giàu lắm mà, chị Forestier, sao em không mượn nữ trang của chị ấy. Hình như em thân với chị ấy lắm để có thể tới mượn nữ trang được!“
Cô reo lên, mừng rỡ:
- Đúng thế, sao em lại chẳng nghĩ ra.

Ngày hôm sau, cô tới gặp bạn, tâm sự với bạn vấn đề của mình. Bà Forestier tới tủ áo có kiếng, lấy ra một hộp nữ trang lớn, trao cho bà Loisel và nói:
- Chị cứ lựa bất cứ món gì chị thích.

Thoạt tiên cô thấy mấy vòng đeo tay, rồi sợi dây chuyền ngọc trai, tiếp đến dây thánh giá lớn cổ xưa, chạm trổ rất khéo léo với những viên ngọc quý. Cô thử lên thử tới trước gương, ngập ngừng, không thể rời chúng ra, mà cũng chẳng quyết định chọn món nào, và cái nào thì đưa trả lại cho bạn. Cô hỏi:
- Chị có món nào nữa không?
- Có chứ. Chị cứ chọn tiếp đi. Mình chẳng biết chị thích cái nào.

Bỗng cô nhìn thấy một hộp bọc xa-tanh đen, trông có một sợi dây chuyền nhận toàn kim cương tuyệt đẹp, tim cô thắt lại trong niềm ham muốn. Cô cầm sợi dây lên mà tay run run. Cô choàng nó vào cổ cao. Ngắm mình trong gương cô chìm trong nỗi sung sướng với hình ảnh tuyệt mỹ của chính mình.
Rồi cô hỏi, giọng hoài nghi:
- Chị có thể cho em mượn chuỗi kim cương này được không?
- Được chứ, chị cầm lấy đi!
Cô ôm chầm lấy bạn, hôn lên má bạn như lời cảm ơn chân tình nhất, rồi vội vàng ra về với kho tàng nhỏ trong tay.

Ngày dạ tiệc, bà Loisel thành công rực rỡ. Nàng đẹp hơn hết trong đám phụ nữ, nàng thật kiêu sa, vương giả, cười tươi tắn, dòn tan trong niềm sung sướng. Tất cả những người đàn ông có mặt chiêm ngưỡng nàng, hỏi tên nàng, tìm đến tự giới thiệu. Tất cả những nhân vật lớn trong bộ muốn cùng nàng khiêu vũ. Ngay cả ông bộ trưởng cũng chú ý đến nàng. Nàng khiêu vũ trong mê cuồng, ngất ngây vì vui sướng, đắm chìm trong niềm hãnh diện bởi nhan sắc của mình, nàng như lên chín tầng mây với những lời ngưỡng mộ. Những khát khao từ bấy lâu nay đã được vuốt ve! Thật là một chiến thắng toàn hảo, tuyệt vời, thoả mãn trái tim người đàn bà.

Cô ra về vào khoảng bốn giờ sáng. Chồng cô đã ngủ được một giấc vào lúc nửa đêm trong một căn phòng bỏ trống với ba người đàn ông khác mà các bà vợ cũng đang rất vui với buổi dạ tiệc. Anh khoác lên vai nàng tấm khăn choàng ngoài, tấm khăn tầm thường của một đời sống bình dị, sự nghèo nàn của nó thật trái biệt với cái áo dạ hội sang trọng, đắt tiền. Cô cảm nhận điều đó và muốn thoát khỏi nó, tránh những cặp mắt so sánh của những người đàn bà khác đang được khoác trên vai những tấm khăn choàng bằng da thú sang trọng.
Anh chồng giữ cô lại, bảo:
- Đợi tí đã nào. Coi chừng bị cảm vì ở ngoài lạnh lắm. Đợi anh gọi xe về.

Nhưng cô không nghe anh, vội vàng bước xuống cầu thang. Khi họ xuống tới đường cái, thì không còn chiếc xe nào cả. Họ lục loại, tìm kiếm, la lớn vào những chiếc chạy từ tuốt xa trong đêm vắng. Họ đi qua dòng sông Seine, người run lập cập vì lạnh. Cuối cùng trên bến họ tìm được một chiếc xe taxi cổ, cũ kỹ, chỉ thấy ở Paris lúc trời đã tối, như thể chúng cũng biết xấu hổ, không dám chạy vào ban ngày.

Chiếc xe chở họ tới tận cửa, đường Martyrs, và họ mệt nhọc leo vào nhà. Tàn một cuộc vui, cho nàng. Còn anh thì nghĩ, ngày mai lại phải vào bộ lúc Mười giờ.
Nàng dở áo choàng ra, nhìn vào gương để ngắm mình lần nữa trong huy hoàng. Bỗng nhiên cô thảng thốt buông ra một tiếng kêu. Cô không có chuỗi kim cương trên cổ!
Anh chồng, đã thay gần hết quần áo hỏi:
- Gì thế ?

Cô quay lại chồng, la thất thanh:
- Em ... em không có sợi dây chuyền của chị Forestier nữa!
Anh đứng bật dậy, sửng sốt:
- Làm thế nào, làm sao xảy ra được?
Cả hai lục loại trên các lớp áo của cô, áo khoác ngoài, áo dạ hội, các túi áo, họ tìm kiếm mọi nơi, nhưng vẫn không kiếm ra.
- Em có chắc là em còn đeo nó khi rời khỏi tiệc không? Anh chồng hỏi.
- Có, chắc mà, em có sờ vào nó lúc còn ở dinh ông bộ trưởng mà.
- Nếu em làm rơi nó trên đường, thì chúng mình đã nghe tiếng nó rơi trên hè rồi. Có lẽ nó rơi trong xe.
- Có lẽ thế, anh có lấy số xe không?
- Không, thế em có nhìn số xe không?
- Không.

Hai người nhìn nhau, thảng thốt. Rồi cuối cùng Loisel bận quần áo vào và nói:
- Thôi tôi phải đi lại khoảng đường mình đi bộ, xem có thể kiếm ra nó không.
Anh đi ra ngoài. Cô ngồi chờ trên ghế trong chiếc áo dạ hội, không còn sức mà leo lên giường, đầu óc chán nản, hết cả năng sức, không một ý nghĩ.

Anh chồng trở về lúc bảy giờ sáng, anh không kiếm được sợi dây chuyền.
Anh tới sở cảnh sát, tới nhà báo đăng rao vặt, hứa một món tiền thưởng, anh đến công ty xe taxi, thật ra anh tới đó trong niềm hy vọng cuối cùng.
Cô chờ anh cả ngày, trong tình trạng lo lắng kinh hoàng, trước một thảm trạng khủng khiếp.
Trời tối mịt, Loisel mới về đến nhà mặt tái xanh, hóc hác. Anh chẳng kiếm ra gì cả.
“Em phải viết cho bạn em”, anh nói: “Bảo em làm sức cái móc của sợi dây, và đang đợi tiệm sửa, để chúng ta có thì giờ kiếm cách trả lại sợi dây.”
Cô lấy giấy bút ra ghi lại những dòng anh đọc cho cô.

Cuối tuần thì họ hết hy vọng. Loisel, nay trông già thêm năm tuổi bảo:
-Giờ thì chúng ta phải tìm cách thay thế sợi dây khác rồi.
Ngày hôm sau họ đem các hộp đựng sợi dây tới tiệm kim hoàng có tên khắc trên hộp. Ông chủ tiệm lục loại giấy tờ và nói:
- Thưa bà, tôi không bán sợi dây, tôi chỉ bán cái hộp thôi.

Họ đi từ tiệm kim hoàng này sang tiệm khác để kiếm một sợi dây chuyền tương tợ, cố nhớ hình dáng nó, mà lòng cả hai kinh hoàng, thảm não. Cuối cùng, trong tiệm kim hoàng khu Hoàng Cung, có một sợi dây, một chuỗi kim cương, trông giống in như sợi dây họ đã đánh mất. Sợi dây chuyền để giá là bốn mươi ngàn francs, và người ta bớt xuống với giá ba mươi sáu ngàn francs. Hai vợ chồng năn nỉ chủ tiệm xin đợi cho ba ngày, đừng bán cho bất cứ ai. Họ cũng giao điều kiện với chủ tiệm phải mua lại sợi dây với giá ba mươi bốn ngàn francs nếu trong trường hợp họ kiếm ra được sợi dây chuyền đánh mất trước thời định là cuối tháng hai.

Loisel có mười tám ngàn francs, gia tài nhỏ ông bố để lại. Anh phải đi mượn số tiền còn lại. Anh mượn một ngàn đây, năm trăm đó, năm chục người nọ, ba francs người kia. Anh ký giấy nợ, sẵn sàng nhận làm những việc tầm thường nhất, mặc cả với các tay vay lãi, với tất cả mọi loại người trong giới cho vay chợ đen. Anh bằng lòng thoả hiệp suốt đời mình, ký giấy nợ mà chẳng biết mình có trả được không, trong nỗi lo lắng viễn tượng tương lai đen tối, khổ cực, những thiếu thốn về vật chất và những dày vò về tình thần mà anh sẽ phải chịu đựng. Trong trạng thái như thế anh đến tiệm kim hoàng, đặt trên quầy ba mươi sáu ngàn francs và lấy về sợi dây chuyền mới.

Ngày bà Loisel đem sợi dây chuyền trả cho bà Forestier, bị bạn ban cho một câu lạnh nhạt:
- Đáng nhẽ chị phải trả tôi sớm hơn, tôi có thể cần nó để đi dạ hội đấy!

Bà bạn không mở hộp ra, như cô đã lo lắng mãi. Nếu chị ta nhận thấy đó là một sợi dây chuyền khác, thì chị ta nghĩ thế nào về mình đây, chị sẽ nói sao? Chị ấy có nghĩ mình là kẻ cắp không chứ.



Từ đó bà Loisel biết thế nào cuộc đời của khổ cực, lao động. Không ngờ nàng đã can đảm gánh vác bổn phận của mình. Món nợ kinh khủng đó phải được trả và nàng phải dự phần trả món nợ đó. Họ cho con sen nghỉ làm. Họ đổi chỗ ở, đi thuê một nơi tồi tàn hơn trước.
Giờ đây cô làm những công việc nội trợ nặng nhọc nhất, những việc khó khăn nhất của nhà bếp. Cô rửa chén, cào nhọ nồi, soong chảo mỡ mật bằng đôi bàn tay hồng hào của mình. Cô giặt quần áo, ra giường, khăn bàn bẩn, rồi đem phơi chúng trên giây. Trên con dốc sáng sáng, chiều chiều cô gánh nước lên, nếu cần dừng lại bậc tâng cấp thở. Cô ăn bận như dân lao động, tay cầm giỏ, tới từng quầy rau, hàng tạp hoá, hàng thịt, mặc cả từng xu một, bảo vệ đồng bạc khốn khổ của mình.

Mỗi tháng món nợ này phải được trả, lại gia hạn món nợ khác, mua thêm thời gian. Anh chồng làm thêm ban đêm cho các hàng quán, vào tối khuya có khi anh còn chép các bản thảo, mỗi năm xu một bản.
Và cuộc sống như thế kéo dài mười năm.
Tới cuối năm thứ mười, họ đã trả hết, tất cả, với thuế cắt cổ của các tên chủ nợ, và những tiền lời chồng chất lên nhau.

Bà Loisel giờ đây trông già đi. Bà đã biến thành một người đàn bà mạnh mẽ, thô thiển và cứng rắn, một người đàn bà của giới lao động. Tóc rối, váy nhầu, tay đỏ, bà ăn nói ồn ào, thảy từng mảnh nước lớn, cong lưng chùi nhà. Thế nhưng, thỉnh thoảng khi ông chồng đang ở sở làm, bà ngồi tựa nơi cửa sổ và nghĩ đến buổi dạ tiệc huy hoàng đã lâu rồi, buổi khiêu vũ mà bà thật đẹp và được mọi người chiêm ngưỡng.
Nếu đêm đó bà không đánh mất sợi dây chuyền, thì việc gì xảy ra? Nào ai biết được? Nào ai biết được? Đời thay đổi lạ lùng quá đổi. Không ngờ chỉ cần một việc nhỏ thôi đủ làm cho ta lạc lối hay có thể cứu ta.


Một ngày chủ nhật, bà đi dạo trong vườn Champs Elysée, cho bõ một tuần lao động khổ cực, bà bỗng nhận ra một người đàn bà tay dẫn một đứa bé. Chính là bà Forestier ngày nào, bây giờ vẫn đẹp, vẫn đài các. Bà Loisel cảm thấy xúc động. Mình có nên tới nói chuyện với chị ta không. Chắc hẳn rồi chứ . Giờ đây bà đã trả hết món nợ. Bà sẽ cho bạn biết. Tại sao không?

Bà đến gần bạn.
-Chào chị Jeanne .
Người bạn, chẳng nhận ra bà chút nào, ngạc nhiên thấy trước mình một người đàn bà xa lạ, gọi mình như quen thân lắm. Bà lúng túng:
- Thưa bà, chắc bà lầm, tôi không quen bà.
- Không, chị không lầm. Tôi là Mathilde Loisel đây.

Người bạn buông ra một tiếng kêu thảng thốt:
- Trời ... chị Mathilde, làm sao chị thay đổi dữ vây!
- Đúng vậy chị ạ, sau lần cuối em gặp chị, đời em thay đổi qua cảnh nghèo khó, mà chị biết không, cũng tại chị đó!
- Ủa, sao có mình trong đó?
- Chị có nhớ sợi dây chuyền kim cường chị cho em mượn đi dự dạ hội ông bộ trưởng không?
- Có chứ!
- Em đánh mất nó.
- Chị nói sao, chị có đem trả mình mà!
- Em đem trả chị sợi dây chuyền giống in sợi chị cho mượn. Thế nên phải mất mười năm vợ chồng em mới trả hết các món nợ. Với chúng em điều này không phải dễ, vì thực sự gia tài chúng em chả có là bao. Nhưng cuối cùng thì chúng em cũng thanh toán được hết món nợ ... Em rất mừng đã hết nợ nần!

Bà Forestier khựng lại:
-Chị nói sao, chị đã mua một sợi dây chuyền kim cương để thế sợi dây của mình à?
- Đúng thế, chị không hề nhận ra à, hai sợi dây giống nhau lắm.
Bà mỉm miệng cười, một nụ cười hãnh diện mà ngây ngô.

Bà Forestier, xúc động khôn xiết, đưa tay cầm lấy tay bạn:
- Tội cho bạn tôi quá, chị Mathilde ơi, sợi dây của mình là sợi giả mà, chỉ đáng giá khoảng năm trăm francs là cùng .

2147







 



Ông bà Thung vui vẻ vào bữa. Lâu nay, theo sáng kiến của ông bữa nào cũng có món "ghém", ghém ở đây là những chuyện vui làm cho bữa ăn ngon.



Vốn là giáo viên văn, người đẫy đà, ưa ướt át, nên chuyện của bà khá đậm. Ông thường khà khà với đám tướng tá trong hội cựu chiến binh rằng ông hơn đứt các cậu khoản ấy.




Bà vừa kể ông nghe cái chuyện cười vãi nước mắt. Cậu Mãng ở quê ra chợ tỉnh gặp một ả... Nó ngọt như đường. Nó thơm lựng. Nó nhúng nhính. Nó điệu đà. Nó thế nào nữa mà cậu è vai gánh cho nó bao nhiêu là hàng hóa. Đến quãng vắng, nó xin hàng, cám ơn. Khổ! Nó cứ liu riu như sáo, va động vào cậu để... trả công. Cậu thẹn điếng. Về nhà nói với bà, còn ngốt lên vỗ đùi đen đét rằng tiếc.




- Rõ thiệt! Mình có thấy quê mùa ra tỉnh là cứ thiệt...!
Vị trung tá già ngậm ngùi.
- Thiệt đứt chứ lị! Nhưng rồi nghĩ mà thương cho nó! Mãng, con đô Vãng; khỏe nhất vùng. Ông khăn gói đi khắp nơi, vật đổ trăm miền thiên hạ. Vào vật, ông uống một lon nước cua rồi bùng lên như một con hổ. Năm vật ở Kẻ Lý, đám không minh, tức máu, ông bê cả phản quan viên ném vèo ra ngoài sới. Ông bị họ thù, đâm lòi ruột... Mãng có cái dáng của cha. Đen sì và cao ngộc, nghịch ngợm bông lơn nhưng ít học. Vợ sảy thai, nửa đêm hồng hộc cõng chạy xuống trạm xã. Vợ chết, sống độc thân...
- Xóm mình còn con Bột... đến tội! Bà gắp miếng cá kho dọc mùng đắp vào bát cho ông.
Ông lặng thinh. Bà nhâm nhỉ:
- Hôm qua nó chỉ vào trán tôi: "Nhà bà có đức mà chưa có hậu!"...
- Vậy là nó đã nói động đến nhà ta. - Ông nhỏ nhẻ nhai miếng cơm.
- Thế còn khá! ừ, nói vậy là còn khá...




Đêm ấy, ông không ngủ được. Tầm quá nửa đêm, ông ra khu vườn. Thói quen của ông trong những lúc buồn thường ra vườn ngồi cho tĩnh tâm. Vượt qua những khoảng trống lộng lẫy ánh trăng, ông đến bên phiến đá đặt dưới gốc một cây nhãn. Trước đây phiến đá hướng thẳng ra ao để ông hưởng chút mát lành của hơi nước. Bây giờ, cái ao mang nỗi đau rỉ máu trong lòng ông. Ông hướng thẳng phiến đá về phía vườn nhà cái Bột. Cái vườn hoang ấy thênh thang và rách rưới, vui mắt một chút là những cây bạch đàn. ồ! Lâu nay, ông vẫn ngắm những thân cây ấy, sao mà nó đẹp! Nó ngời sáng như một tia sữa vọt từ lòng đất vào đêm đen. Như cái đêm nay thì nó vươn trắng, mịn nõn tựa da thịt người... Cây đó mà người đâu? Ông Năm Hạng, bố cái Bột trồng nên hàng cây đó... Con người ấy lùn dính đất, lừ lừ và đen trũi. Ông đã lấy những cây bạch đàn ở vườn ươm hợp tác mang về trồng ở vườn nhà mình. Chủ nhiệm sỉ mắng thậm tệ và tuyên bố đó là tài sản chung, khi nào cây lớn, hợp tác hạ xuống dùng. Uất quá, lão già ốm mà chết.




Bố chết, con bé không còn biết nương tựa vào ai. Mẹ nó như một quả sung rụng, nay ốm, mai đau. Nó đành bỏ cái quyết tâm vào đại học nông nghiệp. May mắn, nó được hợp tác ưu ái đưa vào chân kế toán phụ. Nó hăng sổi, tính toán nhanh, làm giỏi. Người ta có ý bồi dưỡng nó vào chân kế cận. Trong tổ tài vụ hợp tác, có một người khá hào hiệp. Anh ta trắng trẻo, điển trai nếu không có cái chân thọt bắt anh vừa đi vừa "chấm phẩy" xuống đất...




Anh chàng ba con lén vợ, yêu vụng dấu thầm cô kế toán phụ. Bột được anh quan tâm mọi mặt. Cuối cùng thì cô gái hai mươi tuổi đổi một đêm cho gã "chấm phẩy" để được một mảnh vải pho. Hợp tác đùng đùng đổ bễ do một vụ tham nhũng. Chủ nhiệm lao đao. Kế toán trưởng lộ tẩy về kinh tế, Bột chửa hoang. Cô bị đe dọa nghiêm trọng, bị phạt đền khá nặng nếu không bảo vệ uy tín cho ban quản lý. Và thế là Bột rời hợp tác với một tấm thân ô uế, chịu mang tiếng là một con đĩ nơi đầu đình xó chợ... Mọi việc đâu lại vào đấy. Đoàn thanh tra về chỉ là để trấn an dư luận. Chủ nhiệm vẫn vững vàng.




Gã "chấm phẩy" điển trai vẫn cứ vênh vang lên kính gọng vàng chấm phẩy trên mặt đường đầy rác rưởi...




Cho đến một đêm, ồ cái đêm cũng trăng sáng như thế này đây. Dạo ấy trung tá Thung vừa chấm dứt cuộc đời binh nghiệp về quê. Ông ngồi thả câu bên cầu ao sau nhà. Một tiếng hét rợn gáy làm ông sửng sốt. Tiếng lịch huỵch chạy đuổi bên vườn ông Năm Hạng. Hai bóng đen túm được nhau giằng co. Đó là mẹ con bà Năm. Bà rít lên, bổ soài néo con lại. Đứa con gái vọt lên. Mỗi lần bà túm được nó lại bị nó vằng cho ngã khuỵu. Cuối cùng thì đứa con gái lao như một mũi tên đến rệ ao. Một tiếng "tõm" ghê rợn! Bà già bò ra mép nước, chới với đôi tay về phía quầng sáng đang vỡ ra lan rộng.
- Ôi con ơi là con ơi! Thôi thế là mang tội với trời... Đứa con gái xốc bà già lên trong tiếng nấc.
- Con xin mẹ! Đó là đứa con của con nhưng lại là giọt máu của một thằng khốn nạn nhất trần đời này!...
Hai mẹ con người khốn khổ đã về rồi, trung tá Thung còn đứng lặng đầu ủ rũ. Ông cứ nhìn trân trân vào cái khoảng sáng lạnh ở một góc ao.




ở đấy vừa chôn một con người...




Trở về phòng ngủ, ông lảo đảo nằm vật xuống. Ông không thể nói nỗi kinh hoàng này cho bà biết. Nằm một lúc lâu, ông hốt hoảng chạy ra ao. Liệu còn cứu sống được nó không. Đó, cái khoảng nước sáng như một miếng thủy tinh.




Cái ao là một cỗ quan tài, miếng thủy tinh đậy nắp. Ông thấy bức bối, khổ đau.




Làm sao lúc ấy, ông không lội ào xuống? Đã đành rằng vết thương làm một khúc xương ống của ông bị dò không bao giờ lội nước được nữa, nhưng ông đã làm ngơ trước một tai nạn! Tự nhiên ông thấy mình tàn nhẫn.




Sáng ấy, bà đi chợ. Ông gọi thằng Thủy. Nó đang leo cây ổi. Nghe tiếng ông ở mé ao, nó nhảy phốc xuống. Ông chỉ tay xuống một góc ao, nơi gần một bè bương ngâm:
- Con xuống đó mò thử xem nếu thấy một vật gì cũng mang lên cho bố!
Ông vừa dứt lời thì thằng bé đã lao xuống như một con nhái. Nó lặn ngụp, mò mẫm rồi nhô lên vuốt mặt, lau láu:
- Bố ạ! Rõ con chạm vào cái gì trơn trơn choài vào trong bè!




Ông chưa kịp nói gì thì thằng bé đã tụt xuống. Và vĩnh viễn nó xuống thủy cung, không bao giờ trở về với ông bà nữa! Thằng Thủy - đứa con duy nhất của ông, lận đận mãi mới có được nó, mắc vào giữa bè bương. Cái láu táu, dại dột trẻ thơ của nó đã làm ông gây nên một tội ác cuối đời. Ông muốn vớt để chôn đứa bé sơ sinh tội nghiệp kia thì lại giết luôn con mình.




Nỗi đau của ông ngày càng tấy lên da diết cù
ng với nỗi đau người hàng xóm.




Bà Năm Hạng ốm liệt. Bột phải bán cả cái xe đạp rách chạy thuốc cho mẹ, rồi nó phải lặn xuống những thùng sâu đồng vắng mò ốc kiếm sống. Nó mò ốc... chao ôi! Người đâu chả thấy, chỉ thấy cái nón nổi lều bều... Được dịp, người ta bắt đầu nói những chuyện rùng rợn, bao nhiêu là chuyện rùng rợn!




Gương nhỡn tiền ra đấy - người ta bình luận - trời có mắt, trời quả báo cho mà biết. Loại cầm thú còn biết thương con nữa là người. Con đĩ ấy mà chết thì cứ phải leo cầu vồng cho chó ngao nó cắn lòi ruột! Những tiếng rủa sả còn ác độc hơn những mũi tên nhọn. Bây giờ nó mới thấy đau. Nó có tội tình gì. ối trời ơi, đau đớn quá! Có ai giết người như nó không? Trời ơi là trời, nó là người hay là quỷ mà dám làm cái việc man rợ ấy? Sống làm gì nữa? Nào nó muốn thế đâu?




Nó chắp tay lạy thiên hạ trời đất cứu sinh cho nó. Quả là nó oan. Nó cuống cuồng cào cấu. Nỗi đau dồn nén đến cực độ. Liệu nó có làm người được nữa không? Đến khi đắp xong nấm mộ cho mẹ thì Bột làm cả làng kinh dị. Nó đập cửa đùng đùng và cười lên khanh khách. Nó múa, hát, giật tung cúc ngực, xổ tóc, cười khóc, nhảy nhót uốn éo... Trời ơi! Nó thành con điên mất rồi. Cả làng đổ ra đường xem con Bột điên. Trẻ con ném đá, la hét. Các bà khoặm mặt lại. Tụi thanh niên hô hố vỗ tay. Một con điên trẻ! Chao ôi, một đứa con gái điên, tấm thân bà mụ nặn, đôi chồi xuân tròn xoe trên ngực.
Trước con mắt nhớn nhác của mọi người, nó giậm chân xuống đường mà hét:
- Ta là bà chúa cửa hang, bà hoàng cửa bể! Kia kìa cái làng thối gốc trồi rễ, bán cả đình chùa. Một vạn cái đầu lâu hoa cái nằm như ốc kia kìa. Chỗ của các ngài làm việc! Đâu? Chỗ nào?...
Nó thét lác. Nó lồng lộn như ngựa xuống cuối làng. Nó chỉ vào ngôi chùa đổ nát còn có thập điện giữa trống hoắc mà giẫy lên đành đạch: "Đâu? Chỗ nào?" "Chỗ các ngài làm việc?" Nó nói cứ như rắn trong lỗ bò ra. Khiếp vía!... Cái sự âm dương cách biệt, trời phật biết đâu, làm sao nó quái ra thế này?




Từ hôm ấy, làng bắt đầu lâm vào một không khí nghiêm trọng. Các cụ bàn tán. Nhiều người được báo mộng. Bói ra khoa thấy. Việc vỡ lở..." Một vạn cái đầu lâu hoa cái" là khu tập thể hóa mồ mà. Còn chỗ các ngài làm việc thì chả phải nói. Chùa Thượng trước đấy thờ cúng rầng rậc. Hợp tác phá ra làm nhà kho. Đức Phật, xiêm y, cờ quạt... xếp đống, mối mọt hết. Khi có chủ trương chia ruộng khoán, hợp tác co lại, kho tàng không còn nữa, ngôi chùa cổ bị tàn phá mới lộ ra những vẻ thảm hại của nó...




Như một cơ may, chùa làng ráo riết được lập lại. Chả xây kịp thì người ta đắp đất, trát vách. Chưa có ngói, người ta lợp rạ. Hẵng dọn lấy ba gian "mời các ngài về làm việc". Tượng chưa có thì thuê đắp. Tượng thạch cao đắp nhanh lắm. Con cháu lí lém đi xin tượng, có khi còn bê trộm, đánh cắp tượng làng khác! Bát hương cũng tân tiến; bằng nhựa, bằng... cả một cái mũ cối to tổ bố đặt giữa tòa sen!




Vậy mà ngày khánh thành, tế lễ xập xèng cũng rộn rã lắm. Các già lụ khụ lên những chiếc áo dài từ tám đời meo mốc. Họ quỳ lậy, khấn khứa cầu cho phúc lai, tai tống, cầu cho con của thì tươi, con người thì tốt, cầu cho... Choảng!...




Một tiếng đập dữ dội. Các cụ giật mình ngơ ngác. Con điên! Con điên. Nó vừa ném cái đĩa hoa trên Tam Bảo... các cụ lộn ruột. Không lẽ làm thế nào. Nó đã đứng giữa gian chùa mất rồi. Mấy thằng chũm chọe, mấy lão đang gõ đập trống thùm thùm cũng phải ngừng tay len lét nhìn vào hai quả dâu chín sậm trên ngực nó. Mấy lão cung văn đang "ê à ê a" cũng thu chân bó gối. Nó hét lên như xé vải rồi tung cái khăn quay tít như vũ ba lê. Khổ nhất là cái đít của nó cứ ninh ních quay vào cửa Tam Bảo. Một lão chũm chọe lộn máu phát đánh bốp vào mông nó: "Hỗn! Cứ quay đít vào cửa Phật!". Nó quay phắt lại, nhảy vọt lên đậu vào cổ lão chũm chọe dìm xuống: "Phật là ai? Phật là ta kia kìa!..."
Ai dè vừa lúc ấy cái mũ cối bốc hỏa, bát hương cháy đùng đùng. Ba gian chùa lửa loa lóa, khói đặc kịt, tiếng hét của con quỷ nửa người nửa phật làm ai nấy kinh dị. Có người còn nửa tin nửa ngờ nhưng ai nấy sởn gai rợn gáy. Phật về.




Các ngài về...Vậy là những bàn tay, những mái đầu hướng cả về phía con điên lạy lục, xoa xuýt...
"Ngài" kẹp đầu cảnh cáo thằng chũm chọe xong thì nhảy phắt vào chiếu cung văn nhắm mắt, tay hoa, người đảo! Tiền lễ tiền cúng rào rào. Ai cũng len vào tìm chút cơ may, thần phật giáng hạ cõi thế!...




Những mớ tiền xanh đỏ đã nổi cộm trên một chiếc khay lớn, còn cứ chất vào. Đám cung văn bộ phận chiêng trống giúp lễ đảo mắt nhìn khay tiền... Thế là giọng than vãn cầu lạy đồng thanh rộ lên như một dàn hợp xướng.
- Tỏm cắc! Tỏm cắc! Thì thùm! Thì thùm...
Trống nổi lên ròn rã hòa nhịp, khí thế trang trọng, linh thiêng lắm.




Đám lễ cứ thế kéo cho đến khuya, kéo dài ra mấy ngày liền. Tin Phật giáng thế lan truyền. Cả một vùng ùa chảy. Tin còn truyền "ngài" còn chữa được cả tứ chứng nan y. Bệnh đâu, ngài chỉ ngón tay đấy là khỏi. Rồi thì xe máy bâu về như ong vỡ tổ. Con nhang, đệ tử của ngài lúc nhúc về với áo xanh áo đỏ, với khăn chầu áo ngự tím vàng y như mối cánh ra mưa... ngài chỉ việc phán và thu lễ, và ngài phán...




Ai đến, ngài cũng chỉ ngay vào mặt mà đọc vanh vách, mấy bà vợ mấy ông có chức sắc cũng thậm thụt tìm đến. Ngài chỉ vào mặt một bà đang vái lia lịa và run như cầy sấy mà hét: "Con mẹ kia! Mau mau lật đáy cái hòm lên, có ba chữ đại tự ở đấy. Trả ta! Trả ta!... Của nhà mày toàn của bất lương! Lật cái chân móng lên trả ta ba phiến gỗ lim...". Ngài khai suất ra bao nhiêu là tội. Kẻ lỉm dỉm như lão thủ kho, ngài cũng chỉ ra rằng lão lấy cái bát hương đúc đồng to như cái thúng cái đại ở chùa bán cùng với việc lão tuồn hàng chục tấn lúa ra chợ Đại. Sự cứ thế mà bùng lên. Ai bịt được miệng con điên? Ai bịt được miệng quỷ thần? Ngài cứ sưng sưng mà nói ra. Nói ra rả.... Chết nỗi. Hình như có cơ quan về ghi chép những tiếng nói của ngài. Thôi thì sửa lễ hậu, nói lời vàng kêu cầu riêng với ngài cho được kín nhẽ. Thế là những kẻ có tội ở đâu cũng mò về để ngài khai suất cho mà nghe mà sám hối. Họ đến lén lút như những con chuột vào ban đêm, đặt lễ, tay chắp chân quỳ nghe ngài phán. Bao nhiêu tội kinh người cứ được ngài lôi ra tuồn tuột.




Kẻ lừa lọc, thoán đoạt. Kẻ ném bố xuống ao. Kẻ nhốt mẹ vào chuồng trâu. Kẻ thông dâm. Kẻ hiến vợ... Chao ôi, cái mớ tội phạm sao mà nhầy nhụa đến thế? Những tiếng kêu, tiếng đòi kinh thiên, động đến chín tầng mây!...




Ai mà biết được những tội tiềm tàng ấy? Không có con mắt trời phật soi xét thì ai dám vạch ra tất cả như vậy? Chưa ai xét xử nhưng dư luận đã rùng rùng phán quyết. Đã thế người ta phải bắt con điên trừng trị nó. Phải diệt nó bằng tội phạm! Nghe cái tin rùng rợn ấy, một đêm ông Thung vãng ra chùa. Trời ơi! Ông chứng kiến... con điên? Trong tưởng tượng của ông thì đó là một con bé xanh gầy bị tàn phá bởi sự mông muội của trí não. Nhưng không. Nó béo nục.




Có phần rực rỡ. Sao thế này? Ông choáng mắt. Ông vẫn thầm nghĩ: con bé ranh ma giả điên dại để được dịp phun mọi tội lỗi ra ánh sáng. Bây giờ thì ông quả quyết rằng; nó điên thật! Nó vơ đồ lễ ăn như trâu bò nhai cỏ non. Nó cọ đôi bầu vú to vào tường mà hét lên. Nó rùng mình nghiêng ngửa. Vồ cái nọ, vật cái kia. Ôm chòa lấy cái cột nhà mà riết lấy, mà nghiến răng lên kèn kẹt. Cả người nó sưng sỉa, chín mẫm. Mặt vỡ ra bừng bừng, Mắt đổ chao chát. Nó nổ bùng lên từng lúc rồi gục xuống chết rụi, rã rời kều cào man dại...




Ông Thung vẫn ngồi đó, xoay lưng về cái ao rỉ máu, mắt không rời những thân cây bạch đàn tròn nuột, trắng muốt, lay động những mảnh trăng. Bây giờ, ông thấy rã rời thực sự. Ông vô tích sự giữa cái làng rách nát. Ông không cứu nổi một con bé tội tình...




Bỗng mắt ông mờ đi, sầm lại. Bầu trời như một cái lẵng rung rinh, rung rinh...




Ông không còn tin ở mắt mình nữa. Một vòm bạch đàn rung khẽ. Dưới gốc trắng ngời của nó, một tấm thân con gái. Cứ thế cái tấm thân ghì néo, oằn oại lấy cây bạch đàn. Tấm thân bươn lên, tụt xuống, lả lón, vặn vẹo với cái thân cây cho đến khi cúc ngực bung ra, rồi thì cả tấm thân lộ nguyên hình như một con rắn trắng quện chặt lấy cái thân cây cũng trắng. Cái thân cây rung chuyển, vòm lá rũ rã. Tấm thân vẫn néo lấy, vồ vập, cuống quýt cho tới khi đôi tay rời ra, tụt xuống nhũn lịm dưới gốc cây bạch đàn trắng toát, đờ dại như da thịt người dưới ánh trăng về sáng....


- Con hãy ở nhà. Làm cơm ăn xong rồi hãy đi chơi bè bạn. Được không?
- Thưa vâng!
- Có một việc... hạnh phúc của con đấy. ý bố vậy, còn tùy con!
- Vâng!... Bột cúi đầu suy nghĩ rồi đi làm bữa cùng bà Thung...
Ông châm thuốc....




Chính ông không ngờ mình làm được một việc cuối đời. Chà! Con bé... Từ cái đêm
trăng ấy mách bảo ông. Ông phải cất công lên nhà lão chủ trang trại ở Ba Sao tìm đường cứu nó. Lão chủ trại Long Phước trước là cấp dưới của ông mừng quýnh khi gặp lại ông. Một vùng trời đất rộng lớn của lão cứ như một trang trại từ những thế kỷ trước ở châu Âu! Lão thầu hàng chục mẫu đất trồng. Người làm như ong. Cũng toàn loại thất cơ lỡ vận, đầu trộm đuôi cướp. Lão không cưỡi ngựa mà dận xe máy ào ào xuống điều hành công việc ở các xưởng , nơi những chùm lửa hàn tóe ra xanh lét, tiếng động cơ ầm ù, nơi có những khuông nhà đong đầy những bò, dê, gia cầm... Ông thèm cái chỉ tay, cái gật đầu, cái cười ào ào như tung, như phá của lão bạn. Lão tiếp ông bằng tái dê, chả chó, chim quay. Thì ra con người vốn cao quý. Ông thấy óc của thằng bạn là vàng. Và tim nó, một trái tim dào dạt sóng chiều. Khi ông ngỏ ý gửi con bé và những thành tích "bất hảo" của nó, thằng bạn cười rung rinh những đống cơ bắp ụ lên như những quả dưa hấu ngổn ngang, xếp đống trên người nó!
- Được! Nó cần chồng hay cần con. Hả?
- Cần việc!... Sau một giây ngớ ra, ông trả lời một cách vụng về.
Nó - bạn ông lại cười vỡ ra nghiêng ngả:
- Chao ôi! Cụ "cổ đại" rồi đấy! Thời buổi kỹ thuật - công nghệ - la-de-điện tử! Con người, con người muôn năm! Trước đây, tôi cùng ông giải phóng những miền đất, thì giờ, tôi giải phóng những con người. Tôi giải phóng hàng trăm du thủ du thực đẩy nó về đời thực: lao động, hạnh phúc, con - người - hoàn - thiện! Chà chà! Chúng nó bắt đôi như ếch, cưới nhau như tôm tươi, cùng lắm thì cũng tạo hạnh phúc cho nó một đứa con... Đó!
- Thế thì... Ông Thung ngập ngừng: - Đứa cháu tôi, nó đấy, mong ông ném trả lại cho nó cuộc đời con gái là được rồi!
- Bắt tay!...
Lão bắt tay ông nổ đánh bốp như một phát đạn.




Đêm nằm, lão cười nghiêng ngả, kể chuyện dào dạt say sưa. Trung tá già ứa nước mắt. Ông nghĩ đến cái làng của ông. Bạn ông đó, chưa tin là mấy nhưng ông thấy rõ ràng có một luồng gió mới.
Ba tháng sau, Bột về chơi. Nó khóc lặng, mừng tủi. Nó xin nhận làm một đầu con của ông bà. Nó - hoàn thiện như một đứa con gái tân tiến hiện đại với "phăng pho", "cúp kíp", nói chuyện làm ăn cứ sôi lên như lão chủ trang trại.




Nó khoe đang học "nổ", học "nguội". Đêm nó nằm rõ như một con dê bên bà Thung.
Nào ngờ chưa được hai năm nó lại về làng với cái dụng cụ đồ nghề "hàn", "nổ", "nguội"... của nó. Nó bảo nó về hẳn quê lập nghiệp cho cái làng này, cho cái vùng này. Mới ghê!... Nó có cái sổ gáy vàng gấp gấp mở mở. Nó hỏi cái thổ đất vạch vẽ... Cứ như một công trình sư.




Từ hôm nó về, ông bà dấp dính cho nó một đám. Chả ai xa lạ ngoài cậu Mãng. Mới nghe, nó đổ người cười rũ. Nó dúi vừng mặt chín đỏ vào mặt bà thủ thỉ: "Cái ông cõng vợ chạy loạn á, mẹ?". ý nó chê Mãng ít học. Ông bà đành tùy nó.




Đêm ấy, ông bà dọn cơm chờ nó mãi. Tầm nửa đêm, bà lo lắng gọi ông. Ông bà nóng ruột lắm. Ai bảo nó đã có thể thảnh thơi sống giữa cái làng này? Về được mấy hôm, nó đã dùng tông tát vào mặt con trai gã "chấm phẩy" ra ý ghẹo nó. Khuya khoắt thế này, biết tìm nó ở đâu được? Hãy cố chờ nó lát nữa...




Ông ngồi dậy ra vườn. Ông tha thẩn dưới một trời trăng. Trăng sáng lắm. Có tiếng nước xối bên ao, mé vườn ông Năm Hạng. Kìa! Dòng nước như một suối thủy tinh chảy tuột qua một tấm thân ngà ngọc. Mỗi khi dòng thủy tinh óng ả ùa xuống thì cả tấm thân lung linh muôn đốm sáng vọt lên. Bỗng như từ mây lao xuống một thằng người đen trũi quắp lấy tấm thân ấy chạy lên vườn. Hai tấm thân một đen, một trắng vờn nhau quấn quýt. Thằng người ăng - tê bế tấm thân mượt trắng chạy như điên quanh vườn. Chúng lăn giãy huỳnh huỵch như đập đất! Trăng tưới... Trăng vô tư lắm! Chúng hóa thân vào nhau lăn tròn trên vườn cỏ đẫm ánh trăng. Chúng hổn hển. Cái vườn trăng chòng chành. Chúng là ai, ông biết rồi. Bàng hoàng, ông lặng lẽ kéo bà ra vườn. Ông bà lặng nhìn sóng đen lướt trên sóng trắng giữa tấm thảm nhung ngời ngợi ánh trời...
Bỗng nhiên, bà gục mặt vào vai ông lả nhũn đi thì thào:
- Hèn nào chiều nay, tôi thấy thằng Mãng ra công xát trắng cái bộ răng vàng khè của nó.
Ông run lên sung sướng. Nỗi sung sướng thánh thiện làm ứa đôi giọt nước mắt lăn xuống gò má khô.
ồ lạ chưa? Bà Thung... Đôi bạn già tự nhiên cứ néo vào nhau, ấp dìu nhau ngã dúi dụi mấy lần mới vào được đến cửa.

1263


Powered by Blogger.