Để nhớ ba mươi năm Quỳnh tạ thế.

Tôi nói với Hà, tôi đã kể hết chuyện “mối tình tay ba” giữa hai đứa với anh chàng học cùng trường cho ông anh tôi nghe rồi. Hà nói, mi kể chi dị rứa. Nhưng lát sau Hà lại hỏi, rồi ổng nói răng. Tôi cười. Nói tau với mi bỏ hắn là đúng rồi. Mi không bị la chi hết hả? Không. Ra chơi, Hà chép miệng, ông anh mi dân trường tây, coi bộ phóng khoáng hơn anh chị tau. Tôi đáp, chắc tại ổng đang yêu.

Trưa Hà theo tôi về nhà. Tôi bảo Hà lên lầu trước, còn mình thì chạy xuống bếp dặn chị người làm mang cơm lên cho hai đứa. Lúc tới bậc thang cuối cùng, thấy Hà còn đứng tựa lan can ở đó, tôi ngạc nhiên, ủa răng mi đứng đây. Hà không trả lời, mà hỏi lại, hồi nãy, phải ông anh mi vừa đi xuống đó không. Ông mô? Nhà tôi ngoài ông anh ruột, ba mẹ tôi còn nuôi thêm hai ông anh con cậu và con cô. Một ông lớn, hai ông ngang tuổi nhau. Hà bảo ông mang kính cận. Tôi ừ. Hà hỏi lại, ổng ở Sài gòn mới về hả. Tôi lại ừ. Tôi đã kể cho Hà nghe khá nhiều về anh tôi, nhưng đây mới là lần đầu Hà nhìn thấy anh. Tôi và Hà, thân nhau lâu, nhưng có một khoảng thời gian khá dài không cùng học chung lớp, cũng không chơi với nhau. Hai đứa giận nhau. Đúng ra Hà giận tôi, vì tôi đổi đi lớp khác. Mấy năm sau, có dịp học cùng, lại có dịp yêu chung một “thằng”. Nhường qua nhường lại như cải lương. Cuối cùng hai đứa quyết định thực hiện câu Mường Mán viết cho báo Tuổi Ngọc, khoác áo gấm cho tình bạn, khoác vải thô cho tình yêu.

Thuở mười sáu, mười bảy tuổi, bày đặt nói chuyện tình yêu, nhưng chưa đứa nào biết tới cái nắm tay, nụ hôn. Áo gấm, vải thô nghe mà nhức nhối. Trưa hôm đó, tôi thấy Hà có vẻ hơi là lạ. Lúc hai đứa đang học chung bài lượng giác, Hà bỗng đòi nghỉ ngang, điều chưa bao giờ Hà làm. Tôi nói, tau nghi ngày mai ông Bích kêu tau lên bảng quá, ổng hằm hè tau từ tuần trước rồi, biểu, tôi nghe đồn cô học giỏi lắm mà tôi chưa thấy chi hết. Hà thở ra, tự nhiên buồn quá mi ơi. Học không vô.

Tôi thả bút xuống bàn học. Học không vô thiệt. Nên ông thầy mới hằm hè tôi. Nên hồi đầu năm cha hiệu trưởng mới gọi Hà vào văn phòng, la một trận, tự dưng mà con học xuống dốc như vậy là sao! Hà và tôi, mỗi đứa một lớp, lúc nào cũng đứng chon von, chót vót trên mấy chục đứa trong nhiều năm. Học chung lại với nhau, lo áo gấm vải thô, mấy tháng liền, chẳng đứa nào lấy nổi cái bảng danh dự. Ngày nào gặp nhau cũng nói, phải chỉnh đốn lại tư tưởng, phải lo học nhiều hơn. Nhưng cuối cùng cả hai đều không chỉnh đốn, không lo gì cả.
Buổi chiều Hà về rồi, ông anh tôi đi uống cà phê với bạn, trước khi ra khỏi nhà, anh quay lại. Hà đó hả, lớn, dễ thương ghê. Tôi cười, làm thinh. Sáng hôm sau, Hà hẹn tôi ở quán phở đầu phố. Khi tôi đạp xe đến, Hà đã đứng chờ ở ngưỡng cửa nhà Hiền, đối diện với tiệm phở. Hiền cũng chơi chung với chúng tôi, thân với Hà hơn. Tuy nhiên không như hai đứa, Hiền quả như cái tên của mình, nhút nhát, rụt rè. Và cũng không như tôi với Hà, già trước tuổi đến hằng bao nhiêu năm; đám bạn chúng tôi nói, hai con bây lạ dễ sợ. Chuyện yêu chung một thằng con trai của tôi và Hà đã làm nhiều đứa ngạc nhiên. Ngẩn ngơ. Về sau, biết chúng tôi làm thơ và tập viết lách, đám con gái ngưỡng phục hết mình. Hà đã rủ tôi viết chung một cuốn tiểu thuyết. Mười sáu tuổi, hai đứa làm chuyện không tưởng được –chúng tôi viết chuyện tình. Nhưng không phải về chuyện anh chàng “bắt cá hai tay”. Mỗi ngày chúng tôi thay nhau “feiulleton” một đoạn tình yêu tuổi mới lớn. Không nắm tay và không hôn nhau. Độc giả là lũ con gái cũng chưa biết yêu, chưa biết nắm tay. Phê bình cũng là cả bọn. Một đứa làm nhiệm vụ thư ký, tẩn mẩn ghi chép, đứa khác đem đi copy về làm của riêng.
Sáng hôm ấy, vừa khóa xe, tôi vừa nói với Hà, ông anh tau khen mi dễ thương. Từ phía sau lưng tôi, Hà nói, rứa hả. Rồi làm thinh. Tôi tưởng Hà không chú ý, hay nghĩ ngợi gì đến anh, câu nói của anh, nhưng đến lúc đã gọi xong thức ăn, Hà bỗng ngó tôi. Hôm qua mi nói ông anh mi đang yêu phải không. Tôi cười. Không phải đang, mà yêu lâu rồi, chừ mới được trả lời. Ai? Hà hỏi. Tôi loay hoay lau hai đôi đũa cho hai đứa, đáp. Quỳnh, mi biết Quỳnh không? Hà chớp mắt, quay đi ngó người bồi bàn đang mang phở ra cho chúng tôi. Chị của Mai Hương phải không. Tôi ừ. Hà nhận xét, mặt con nớ dễ thương, nhưng cái miệng ngó hơi đỏng đảnh. Tôi gật đầu. Quỳnh đẹp hơn.
Quỳnh, Lâm Du Ngọc Quỳnh, chị của Mai Hương, suốt cả thời mới lớn, ông anh tôi ngồi đâu đó sau lưng trong lớp học, vẫn mơ ước hàng trăm lần, hàng ngàn lần được nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn, được vuốt khẽ lên làn suối tóc đen mượt, được nói những ngôn từ yêu thương với người con gái ấy... Nhưng vẫn ngày hai buổi bao nhiêu năm như thế, anh cứ chỉ là người con trai lặng yên ở phía sau. Cứ đi về không ánh mắt, nụ cười Quỳnh đuổi theo.
Mãi cho đến về sau này, khi không còn chịu nổi cái không khí lớp học mà mấy mươi năm sau, anh bảo sặc mùi thực dân, rồi mãi cho đến lúc bỏ trường lớp đi rồi, anh mới được nghe một vài âm vọng từ phía Quỳnh.
Tôi nói với Hà, anh kể chuyện anh và Quỳnh cho tôi nghe sau khi tôi thành khẩn khai ra chuyện tay ba của ba đứa chúng tôi. Hà uống ngụm sữa đậu nành. Lát sau mới hỏi lại. Hiện tại là hai người đang yêu nhau? Tôi chậc lưỡi. Tau không rõ. Nhưng chắc là đang yêu nhau.
Hà không nói gì. Nên tôi cũng thôi, không kể thêm. Hai đứa im lặng rất lâu như những hôm về học, đạp xe đi cả đoạn đường dài, mà chỉ nhìn nắng rớt rơi trên những tàn cây. Đến lúc đã tính tiền xong, chuẩn bị rời khỏi quán, Hà mới chuyển đề tài, trở lại chuyện học hành, nhắc tôi về cái dự tính sau này sẽ đi du học của hai đứa.

Tháng chín. Miền trung không có mùa thu, nhưng thị xã tôi vào lúc ấy, bầu trời không còn trong xanh, cũng không có những hôm lãng đãng mây trắng. Mà âm u xám và buồn như màu sữa pha. Từ chỗ tôi hay đứng trong cửa sổ mỗi ngày, đã không còn có thể nhìn thấy được chóp ngọn Hải Vân. Con sông chạy quanh thành phố, cũng đục ngầu phù sa, và những ngôi nhà nằm dọc bờ bên kia, đối diện trường học tôi, chỉ còn thấp thoáng, lờ mờ ẩn hiện như trong tranh vẽ.
Tháng chín, lớp học chúng tôi có vài ba xáo trộn. Nhà trường nhận thêm năm bảy học sinh mới, tản cư từ mặt trận Thường Đức, mùa hè năm ngoái về. Tôi nói với Hà, gia đình tôi chắc sẽ dọn vào Sàigòn. Ba mẹ tôi đang kiếm mua nhà ở đó. Hà ngạc nhiên. Mẹ tau cũng đang tính dọn đi. Chắc không đợi hết niên khóa. Hà bảo. Nghe, tôi liền bật lên tiếng kêu. Mừng rỡ. Rứa mà tau cứ lo từ bữa ông bà già tính chuyện. Sợ xa mi, không dám kể sớm. Hà nói. Tau cũng tưởng mỗi đứa sẽ ở một nơi. Bà già tau nghĩ, ở đây chắc không còn yên nữa đâu.
Ở đây, thành phố tôi sinh ra, lớn lên, và gắn bó như gắn bó với một người tình. Nơi tôi, Hà và gia đình hai đứa đã từng tính toan sẽ để chúng tôi rời khỏi khi xong trung học, sang tít tắp một nơi nào đó bên kia trời tây, nhưng thật sự, chắc chắn không bao giờ tính toan đến chuyện chúng tôi sẽ không quay về. Nên hẳn nhiên, cả hai chúng tôi, cũng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện mình sẽ bỏ lại sau lưng khung trời đầy ăm ắp kỷ niệm như vậy.
Cả khi chiến tranh loang ra như một vết dầu, mấp mé đến tận thành phố -mùa hè trước đó, cậu tôi mất tích trong một trận đánh lớn cách thị xã không xa- nhưng chúng tôi vẫn không làm sao tưởng tượng nổi người lớn, mẹ Hà, ba tôi nghĩ rằng thị xã sẽ không còn là nơi nương náu tốt cho chúng tôi. Hằng ngày, người lớn nói chuyện về chiến tranh, và toan tính chạy trốn đến những nơi an toàn hơn, chúng tôi cũng đã từng lo sợ theo, nhưng ở cái lứa tuổi nào đó, con người ta chỉ có thể mơ hồ cảm nhận, chỉ có thể loáng thoáng nhìn thấy điều gì đó chẳng lành. Và ngày ngày, vẫn rân ran quán xá nào mới mở, quần áo, thời trang nào mới ra. Tôi và Hà, như người lớn, bắt chước người lớn, túi rủng rỉnh tiền cha mẹ cho, không cần bọn con trai, tự đưa nhau đi uống nước ở những quán cà phê sang nhất thị xã, những nơi có tên Tây, không khí Tây, với đèn mờ, với dương cầm, với lò sưởi, với thảm lót sàn... Thư chị tôi từ Frankfurt, Darmstadt gửi về, làm hai đứa còn mường tượng đến một chân trời xa rộng hơn. Tôi chỉnh đốn, đi học tiếng Anh ở Hội Việt Mỹ đều đặn, siêng năng hơn. Hà bảo lần này vào Sàigòn, hai đứa phải đồng ý chuyện để gia đình mua xe máy cho hai đứa chạy. Hà nói. Đường xá Sàigòn xa, tới lui học hành chung với nhau dễ hơn. Trước, cả tôi lẫn Hà đều phản đối cật lực, đều chỉ muốn đến trường bằng xe đạp để áo dài, tóc dài vờn bay.
Tháng chín, chiều tan học, vẫn những tàn mơ trên các con đường về nhà, tôi và Hà vẫn luôn chọn con đường xa nhất, nhiều bóng cây nhất để đạp xe đi chung với nhau. Cuộc sống vẫn yên bình, ngọt ngào và đáng yêu như truyện, như thơ trong quãng đời chúng tôi làm thiếu nữ.
Tôi chẳng bao giờ tưởng tượng ra, có một sáng tháng chín, tôi đã đến trường trong một nỗi kinh hoàng. Bầu trời đã buồn bã, và tối xám như không còn hôm nào tối xám hơn vậy. Tôi đi học muộn. Gặp Hà ở ngưỡng cửa phòng khánh tiết. Thường, đứa tới trễ sẽ hỏi han bạn trước, nhưng hôm ấy tôi không cách gì mở nổi nửa lời. Tôi sững người ra ngó Hà. Tôi sững người ra nhìn tà áo Hà trắng toát nổi bật bên cạnh khung cửa nâu đen. Và tôi đã đứng sững, như người chết.
Hà nhìn tôi, ngạc nhiên, có chuyện chi mà mặt mày mi ngó ủ dột dữ. Cổ họng tôi nghẹn cứng lại. Tôi muốn nói. Quỳnh chết rồi, nhưng không cách gì nói được. Tôi cứ đứng trơ ra đó. Và mãi cho đến sau này, tôi cũng nhớ rõ là bao lâu, tôi mới báo được cái tin dữ ấy cho Hà. Chẳng biết tôi đã nói với Hà bằng những từ ngữ nào, mà chỉ nhớ giọng Hà kêu lên rất thảng thốt. Quỳnh mô? Mắt Hà mở lớn như không hiểu được tôi đang đề cập đến chuyện gì. Ở độ tuổi chúng tôi thuở ấy, cái chết, hoàn toàn là chuyện không mường tượng nổi, huống chi người chết trẻ, như Quỳnh, là Quỳnh.
Dạ tôi thót lại. Tôi đáp. Quỳnh, Ngọc Quỳnh. Giọng Hà bàng hoàng. Chúa ơi! Răng rứa? Tôi không trả lời được. Hà hỏi lại. Có thiệt là Quỳnh không? Tôi quay đi, lần này thì tôi thật sự không dám ngó Hà nữa. Tôi sợ sẽ bật khóc. Tôi ôm chặt lấy cặp sách vào ngực, nói vội. Thiệt. Không tặc.
Không tặc, rớt máy bay, chuyện vừa mới làm bàng hoàng cả thị xã, cả nước chỉ cách đấy mấy ngày. Nhiều người trí thức và có địa vị của thị xã chúng tôi đã chết trong chuyến bay oan nghiệt ấy. Nhiều người. Nhưng chúng tôi chỉ nghe tiếng tăm của họ, không quen. Chỉ có Quỳnh. Chỉ có Quỳnh thôi. Tiếng Hà bên tai tôi nghi ngờ. Có thiệt là Quỳnh không mi? Rồi Hà lại hỏi. Nhưng mà răng lại là Quỳnh?
Sao lại là Quỳnh? Sao lại là những người không oán thù gì với ai như vậy. Tôi làm sao có thể biết được. Quỳnh làm sao có thể biết được. Chẳng ai có thể biết được. Cái chết thường đến bất ngờ, nhưng người ta chết vì có kẻ muốn cướp máy bay, muốn sang chiến tuyến khác giữa thời điểm hai miền nam bắc giao tranh ác liệt như vậy, với người lớn, với kẻ gây ra tang tóc chiến tranh, có ý nghĩa như thế nào, và tại sao, thì những đứa con gái như tôi, như Hà, như Quỳnh thuở ấy, làm sao có thể hiểu được.
Tôi không đáp được thêm lời nào. Chúng tôi không biết nên nói gì với nhau thì đúng hơn, nên cứ đứng lặng yên ngay giữa lối đi. Bình thường vào giờ đó, chúng tôi sẽ chộn rộn kéo nhau ra một góc sân, ồn ào tán dóc chuyện trên trời dười biển, từ truyền hình, phim ảnh, đến sách vở, áo quần, thời trang. Hoặc không thì hai đứa sẽ lao nhao đi theo đám bạn nghịch ngợm chọc ghẹo bọn con trai cùng lớp. Sáng hôm ấy, chuyện tôi đem tới, không chỉ đơn giản, buồn, đối với hai đứa; không chỉ bất ngờ, mà đã vượt lên trên mọi thứ. Có điều gì đó, hơn cả sự sợ hãi, hơn cả nỗi cùng khủng vây lấy chúng tôi.
Lát sau chừng như Hà có vẻ bình tĩnh lại. Hà nhỏ giọng, hèn chi sáng ni tau gặp con Mai Hương ngoài cổng, mắt đỏ hoe.
Cái câu Hà nói, thật hết sức bình thường, vô cùng bình thường, nhưng đã hơn ba mươi năm trôi qua mà tôi vẫn nghe như ở đâu đây. Vẫn bên tai, thật gần. Rất gần. Vẫn như trước mặt mình là hình ảnh em gái Quỳnh đâu đó ngoài sân trường. Vẫn cái tà áo trắng của Mai Hương, của Hà trắng toát giữa bầu trời mù. Vẫn hiển hiện cách rõ ràng cái không khí ảm đạm của một buổi sáng tháng chín trong tôi.
Khi vụ không tặc xảy ra, tôi không nhớ rõ lắm vào lúc nào, buồi sáng hay chiều. Chỉ nhớ quanh chúng tôi, người lớn bàn tán xôn xao về những nhân vật quan trọng, những người thuộc giới trí thức bị nạn trên chuyến bay ấy. Chiếc Boeing bốn trăm lẻ bảy. Chiếc máy bay nổ trên không bằng một quả lựu đạn rồi rơi xuống đất giữa đường bay từ thị xã tôi vào thủ đô. Kẻ gây ra cái chết của nhiều người vô tội ấy, tôi nhớ rất rõ, không còn trẻ, nhưng cũng không đủ già để có thể gọi là người chán đời, không còn muốn sống. Con người ấy, chắc chắn đã biết mình muốn điều gì, làm điều gì, và có lẽ rất tỉnh táo, nên khi nhận ra viên phi công không làm đúng lịnh anh ta yêu cầu -bay ra Bắc; đã làm nổ tung quả lựu đạn tháo chốt sẵn cầm trên tay, kết liễu cuộc đời không chỉ riêng mình bản thân anh ta, mà tất cả mọi người có mặt.

Tôi nói với Hà, anh tôi vừa về đến nhà chiều qua. Vài ngày trước đó, anh mới từ thị xã vào Sàigòn. Mới vừa hẹn với Quỳnh sẽ đi thăm khi Quỳnh vào đến nơi. Những tháng năm dài, chờ đợi một cái ngoái đầu, một nụ cười, ánh mắt quay lại, tưởng nghỉ hè xong, vào lại thủ đô lần này, anh và Quỳnh sẽ có nhiều thời gian ngọt ngào đằm thắm với nhau. Nhưng không. Cái định mệnh tàn khốc đã đến với anh, với Quỳnh. Như một vệt sáng tắt ngấm, một đốm lửa tàn trong đêm tối. Quỳnh biến mất ra khỏi cuộc đời, biến mất vĩnh viễn đột ngột, bàng hoàng ra khỏi anh, giấc mơ anh.
Tôi kể cho Hà nghe, sáng hôm anh thức dậy, chuẩn bị đi học, và chuẩn bị tối ấy sẽ đến thăm Quỳnh, thì nghe radio đưa tin không tặc. Chuyến bay từ thị xã vào Sàigòn đã rớt cánh nửa đường. Thông tấn xã Việt Nam đọc danh sách người tử nạn ngay lúc anh vừa chân trong chân ngoài ngưỡng cửa. Một người trong những bạn bè anh, cùng ở chung nhà trọ, nói lớn, chờ chút. Rồi tiếp liền sau đó, tụi bây im lặng, để coi có người quen của mình hay không. Bạn anh nói, không biết đùa hay thật; nhưng khi nghe, anh cũng dừng lại đôi giây. Và rồi anh chăm chú. Anh nghe từng cái tên được xướng lên. Anh nhận ra. Không, chẳng có ai quen. Chẳng có ai thân.
Chẳng có ai hết. Chỉ trừ một người. Chỉ trừ một cái tên anh từng gọi hằng bao nhiêu lần trong mơ, hằng bao nhiêu lần trong trí. Anh sững sờ chết lặng ở ngưỡng cửa. Anh mở mắt to nhìn vào trong nhà. Anh không thấy ai. Mọi người chừng cũng không ai thấy anh. Không ai dám thấy anh.
Cái tên đã vang lên như một cơn bão. Như một tiếng sét. Như một phát súng. Bắn trúng vào giữa trái tim anh. Anh kinh hãi. Rồi anh bàng hoàng.
Tôi nói với Hà. Xác Quỳnh cháy xám đen. Co quắp. Tôi kể cho Hà nghe. Nhiều người đã chết trong tư thế như vậy. Giống hệt như Quỳnh. Gần như chẳng còn ai có thể nhận ra xác người thân mình. Gần như chẳng có ai có thể phân biệt được xác Quỳnh với xác những người cùng chết với Quỳnh. Anh cũng nói, anh không thể nào còn nhận ra Quỳnh. Quỳnh dịu dàng. Quỳnh mềm mỏng. Quỳnh dễ thương của anh. Anh không thể nào tưởng tượng được hình hài nằm đó, xác người nằm đó, giữa những hình hài, những xác người, là Quỳnh.
Anh xanh mướt như một tàu lá khi về đến thị xã. Cả nhà tôi không ai dám hỏi han anh. Như bạn bè anh đến thăm đã không dám tỏ bày với anh điều gì. Mẹ tôi lắng lo nhìn anh lên lên xuống xuống, đi đi về về. Lặng lẽ như một bóng câm. Tối tối anh ngồi giữa vùng ánh sáng nhạt nhòa. Bài hát thật buồn, thật đớn đau cứ quay đi quay lại. Hai vai anh có khi rung, khi rũ xuống như một thân lá chết. Đừng bỏ em một mình, đường về nghĩa trang mênh mông...

Cuộc sống khép lại như bức màn sân khấu khép lại sau lưng chúng tôi. Chiều tháng chín năm xưa, tôi và Hà theo anh đi thăm mộ Quỳnh, từ trên đồi thông cao đứng nhìn xuống mặt biển bao la và cát trắng, hai đứa đã ngẩn ngơ tự hỏi, bên kia cái chết là gì. Hà viết cho anh mấy trang giấy vở học trò. Tôi thay anh làm thơ. Cho Quỳnh. Tháng chín tôi về với em. Cơn mưa rớt hạt nặng thêm nỗi lòng... Cả hai chúng tôi, đều bồng bềnh như trên những đám mây như vậy suốt bao nhiêu ngày tháng dài.
Ba mươi năm sau, Hà viết thư cho tôi. Người ta đang kỷ niệm ba mươi năm chiến thắng miền nam. Ba mươi năm đã qua đi trong cuộc đời của hai đứa bọn mình, ngày xưa, cái chết nó ghê gớm quá đối với chúng ta, nhưng tau đang nghĩ, phải chi mình được chết ngay từ lúc trẻ như Quỳnh, chắc có lẽ, đã còn hơn. Chắc có lẽ, đã thảnh thơi.

Chắc có lẽ. Tôi trả lời Hà như vậy. Và buồn tênh nhìn lại những đoạn đời mình và bạn đã qua đi, tự hỏi, có còn nỗi nhọc nhằn nào hơn những nỗi nhọc nhằn, những tháng năm cùng khủng hai đứa từng trải hay chăng. Hà viết, ở đây nhiều khi nghe Trịnh Công Sơn, Lặng Lẽ Nơi Này, mà tau không thể ngăn được giọt nước mắt cứ ứa ra ở đầu mi.

Tôi phương trời xa, cũng chỉ một góc trời, một góc đời mòn mỏi. Tôi viết trả lời Hà. Định mệnh chưa bao giờ nở nổi nửa nụ cười, cuộc sống chưa bao giờ phóng khoáng nuông chiều hai đứa, nên chắc có lẽ, cái chết cũng sẽ không đến dễ dàng và không thảnh thơi với cả hai chúng ta đâu.
Hà hẹn tôi, về đây đi, tau với mi bay về thị xã, hai đứa mướn xe đạp, đi lại những con đường mình đã đi, tới những nơi mình đã tới. Rồi leo cả những con dốc mình từng leo. Để, kẻo lực sắp tàn, hơi sắp kiệt, làm sao có thể sống lại một thời, Nga ơi!

Trước khi gác máy, Hà rủ tôi về thăm mộ Quỳnh. Tôi ừ. Hứa hẹn với Hà chuyến về. Gác máy xong, tôi ngồi nhìn lặng vào bóng đêm như nhìn những tàn phai của cuộc đời; nhớ đến lời Hà. Lực sắp tàn, hơi sắp kiệt. Và tôi tự hỏi lòng, nhưng còn bao lâu nữa thì chúng tôi mới đến được nơi Quỳnh đã đến?



1659






Ngày xưa, ở tỉnh Sơn Tây, có người thợ săn tên là Dã Tràng thường ngày vào rừng săn bắn, hay đi qua một cái hang rắn, trong đó có một con đực và một con cái mình đen lốm đốm trắng. Một hôm, anh ta thấy con rắn cái lột xác, thì con rắn đực săn sóc, đi tìm mồi về cho.

Lần sau, anh ta thấy con rắn đực lột xác thì con rắn cái không ở nhà trông nom, lại đi với một con rắn đực khác. Anh ta giận con rắn cái lang chạ, mới giương cung bắn chết. Con rắn đực đã khỏe, đợi không thấy vợ về mới đi tìm, thì thấy chết ở ngoài rừng, trên mình mang một mũi tên, xem biết là của Dã Tràng, mới bò đến nhà anh ta cắn để trả thù. Con rắn chồng còn đang nằm rình trên mái nhà thì nghe Dã Tràng nói với vợ rằng:
"Hôm nay tôi đi săn gặp một chuyện buồn cười về loài rắn: Con cái lột xác thì con đực trông nom, kiếm mồi về cho, còn đến khi con đực lột xác thì con cái bò đi với con đực khác. Thấy thế tôi tức mình bắn chết con cái..."

Rắn đực nghe thấy thế, biết vợ mình chết là đáng tội, không báo thù nữa, bỏ đi. Hôm sau, Dã Tràng thấy một con rắn đến nhả cho mình một viên ngọc sáng lòa trong bóng tối.

Dã Tràng nghe nói là có ngọc rắn thì nghe hiểu biết được tiếng loài vật, sáng hôm sau mới bỏ vào miệng ngậm đi săn. Vừa đến rừng, anh đã nghe tiếng chim quạ nói với nhau trên cây:
"Phía đàng đông, cách đây một dặm, có con nai bị thương, có ai thấy không?"
Dã Tràng nghe theo lời quạ đi đến nơi, quả nhiên thấy một con nai vàng đang hấp hối, liền giết thịt con mồi. Con quạ bay theo nói:
"Cho tôi bộ lòng! Cho tôi bộ lòng!"
Dã Tràng lấy bộ lòng nai đền ơn mách bảo cho quạ. Hôm sau, Dã Tràng trở vào rừng, quạ lại chỉ nơi cho anh tìm mồi, rồi cứ thế mà ngày nào anh cũng đem về nhà được rất nhiều thịt rừng. Dã Tràng và quạ thành đôi bạn liên minh, và anh không quên mỗi lần dành cho quạ bộ đồ lòng của con thú săn được.

Một hôm, phần thịt để cho quạ bị chó rừng đến trước tha mất, quạ tưởng Dã Tràng đã quên công mình mới bay đến nhà để trách đòi. Dã Tràng bảo có, quạ bảo không, rồi đôi bên cãi nhau to tiếng. Thấy quạ nói hỗn, Dã Tràng liền lấy cung bắn, trong lúc giận nên bắn trượt. Quạ mới bay theo cắp mũi tên rơi, kêu lớn:
"Ta báo thù! Ta báo thù!"

Vài hôm sau, có lệnh trên bắt Dã Tràng hạ ngục. Người ta vừa thấy một thây ma trôi sông trên bụng có ghim một mũi tên khắc họ tên của Dã Tràng. Anh ta biết ngay là quạ trả thù mình, hết sức kêu oan song vẫn bị tống giam.

Ở trong ngục, anh nghe lũ chim sẻ đậu trên mái ngói nhà tù nói với nhau rằng có nhiều kho lúa nhà vua không giữ cẩn thận đã bị chim kéo đến ăn sạch. Dã Tràng bèn xin gặp viên quan coi ngục để kể lại việc này. Ban đầu ông quan không tin, song đến khi nghe nói các lẫm lúa trong hoàng cung mất sạch mới biết là Dã Tràng đã nói đúng.

Sau đó, Dã Tràng nghe lũ kiến bảo nhau là sắp có lụt to, anh liền đem chuyện này thưa với viên quan coi ngục. Lần này viên quan vội vã tâu lên vua để tìm cách đề phòng thiên tai. Ba hôm sau, quả nhiên mưa to gió lớn, nước sông dâng lên tràn ngập khắp nơi.

Vua cho đòi Dã Tràng đến, anh ta cứ thực tình kể lại đầu đuôi, từ việc rắn cho ngọc đến việc quạ báo thù, và dâng viên ngọc rắn lên vua xem. Vua mượn viên ngọc để thử, thì nghe được tiếng chim ở vườn ngự uyển chuyện trò với nhau, lấy làm thích thú lắm, phong tước cho Dã Tràng và giữ lại bên mình. Từ ngày có viên ngọc, vua mải mê đi khắp nơi để nghe tiếng nói của các loài chim muông đủ mọi giống bay trên trời, bò chạy dưới đất. Dã Tràng nhờ thế mà sống được một quãng đời an nhàn, vui thú.

Ban đầu, vua say mê tìm nghe loài vật chuyện trò, nhận thấy chúng cũng chẳng khác gì loài người, cũng có những ham muốn, những khốn khổ, những vô lý như người ta, nên rồi vua cũng đâm chán.

Một hôm, vua muốn nghe tiếng nói của các loài ở dưới nước, mới ngự thuyền rồng ra biển, có Dã Tràng cùng đi theo. Các giống thủy tộc cũng như các loài ở trên đất, thường nói năng chẳng nghĩa lý gì hoặc chỉ nói để làm hại lẫn nhau.

Một buổi trưa, vua thấy một con cá mực bơi theo thuyền rồng mà hát khúc ca ngợi các làn mây trôi trên biển trời xanh. Trông con mực uốn éo ca những lời đẹp đẽ, vua bật cười làm rơi viên ngọc xuống biển.

Dã Tràng cuống cuồng tuyệt vọng, nhà vua cũng chặc lưỡi tiếc uổng. Các tay bơi lội giỏi trong nước lập tức được gọi đến để mò viên ngọc dưới đáy biển, nhưng đều uổng công. Dã Tràng thấy không tìm lại được viên ngọc, bỏ ăn, bỏ ngủ, ngày đêm ngơ ngẩn như kẻ mất hồn, nảy ra ý muốn lấp biển để tìm của quý. Anh ta mượn cả ngàn người xe cát đổ xuống biển sâu. Lúc đầu vua còn tội nghiệp để làm song thấy công việc ngông cuồng của Dã Tràng kéo dài vô ích nên bỏ mặc anh ta.

Còn lại một mình, Dã Tràng ngày đêm ra sức gánh cát lấp biển để tìm lại ngọc, cho đến khi buồn rầu kiệt sức lăn ra chết.

Sau đó, người ta thấy hiện ra ở bãi biển một giống cua nhỏ ngày đêm cứ xe cát hết hòn này đến hòn nọ, bị sóng dạt vào cuốn đi, lại đào lại xe. Cứ thế mà liên miên theo với sóng biển ngàn đời không dứt.

Người ta cho rằng Dã Tràng đã đầu thai hóa kiếp làm loài cua nhỏ ấy cố ngày đêm ra công lấp biển để tìm lại viên ngọc đã mất, mới đặt tên giống cua này là Dã Tràng. Trong dân gian ngày nay còn để lại câu hát để nhắc nhở đến việc ấy:
Dã Tràng xe cát bể đông,
Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì.
1206




Mười hai lần tôi mơ thấy nàng bay vào bầu trời. Mười hai lần sau giấc ngủ tôi nhẩm lại bài thơ nàng gửi tặng tôi trong mơ:
"Em tìm về cố hương
Những đám mây kết võng đón em
Mẹ sẽ thôi buồn con mười hai bến nước
Dòng sông ơi, xin chạy ngược
Ta muốn cùng anh qua bờ bên kia..."
Tôi đem câu chuyện này kể với ông giáo kiêm nhà chiêm tinh giảng đường và nhờ ông giải mộng. Bóp trán suy nghĩ một lúc, ông phán:
- Hỏng rồi con ơi!
- Sao thầy? - Tôi sửng sốt.
- Thành công chỉ đến với con khi có cô gái này bên cạnh. Con thì không thích vướng bận vào đàn bà. Mục đích tham vọng của con ta biết con không bao giờ chia sẻ với ai.
Lời ông giáo tôi nghe cũng vui vui. Rồi tôi quên bẵng ông cũng như quên giấc mơ mười hai lần trùng lặp.
Buổi chiều hôm đó tôi đến gặp nàng. Lòng tôi trĩu nặng. Nàng ngồi bên băng một mình, thấy tôi, nàng nói một cách thờ ơ:
- Cuốn băng nhạc cổ điển mà anh thích Vân cho đứa bạn mượn rồi. Thôi Quang nghe cái này nhé. Vân tin rằng Quang không chán.
Tôi gật đầu đồng ý. Nàng bấm máy cátxét. Sau khúc dạo đầu, một giọng nói ấm áp phát ra. Cảm giác bình an tràn ngập khắp căn phòng từ cuốn băng đã cũ và hỏng khá nhiều chỗ. Nội dung không nghe được rõ lắm. Tuy vậy sức truyền cảm lạ lùng ở giọng người phát ngôn có khả năng lay động lòng tôi.
Hình như Vân cũng chìm trong một trạng thái tương tự.
Khoảng khắc ấy cũng qua đi, cuốn băng bị xoá quá nhiều. Tôi không hiểu nhìn Vân dò hỏi, nàng giải thích tôi rõ đấy là bài thuyết pháp của một nhà sư. Tôi hơi ngỡ ngàng. Vân không nói gì thêm, tôi chào nàng ra về.
Bóng tối loang dài các phố. Một nỗi buồn nao dạ ập đến cấu xé tâm hồn tôi. Lặng lẽ tiễn tôi qua quãng đường dài. Vân nghĩ gì tôi không rõ. Chỉ đôi mắt trắc ẩn của nàng cứ làm tôi day dứt.
Cuộc chia ly đã được báo trước. Tôi ra đi, mang tâm trạng của thằng sinh viên không bao giờ tốt nghiệp. Tôi buồn, không phải vì bạn bè cười tôi quá cuồng vọng, mà bởi ở chính thái độ dửng dưng của nàng.
Bữa tiệc liên hoan mất quá nhiều nước mắt. Vân không đến. Tôi không biết tâm trạng nàng thế nào? Tuy luôn bên nhau nhưng nàng mãi mãi là một người xa lạ.
Hoà nói với tôi:
- Vân gửi thư chia tay bọn mình. Nàng đi đâu không rõ. Đồ đạc vẫn còn để nguyên lại.
Rồi Hoà bâng quơ:
- Vân như sống sau một lớp sương mù.
Thật ra tôi biết Vân lên thành phố cố quên mình là đứa bé nghèo có gia đình cũng như không. Vân gồng mình sống với mọi người. Đó là điều ai cũng biết. Vân cũng hiểu. Riêng mọi bi kịch nàng đã trải thì không ai thấu đáo. Tôi gặp Vân nàng đã trải thì không ai thấu đáo. Tôi gặp Vân quá muộn. Tôi ra đi vào cái lúc Vân cần sự chở che của một người bạn khác phái. Vân đang sống trong khó khăn, thiếu thốn mối đồng cảm. Điều làm tôi đau lòng là Vân hiểu tôi. Những khát vọng nghiên cứu, sáng tạo, mong muốn dấn thân, thử nghiệm sống, trạng thái bão hoà cảm xúc giữa tháng ngày đơn điệu. Vân đọc thấu nỗi lòng tôi, Vân thương tôi vì tôi cô độc quá. Còn tôi lại không muốn dắt díu Vân đi suốt cuộc đời.
Hà Nội mùa xuân vẫn còn giữ trong lòng cái lạnh cắt da cắt thịt. Gần hai mươi năm, mọi vật mờ nét dần. Khuôn mặt nàng cũng nhoà nhạt trong tôi. Giờ đây tôi đang tồn tại giữa Hà Nội như lời khẳng định của Vân. Mặc dù trước kia tôi cho một mình đi không bao giờ trở lại.
Gần hai mươi năm, tơi tả trên gai góc cuộc đời. Bạn bè còn đó với những đổi thay. Gánh nặng gia đình hai vai, tôi không còn hơi sức mà đàn đúm với chúng nó như xưa.
Cô bé ấy xuất hiện như để gợi lại một nỗi buồn riêng.
Sau khi bị buộc thôi dạy, nhà trường chuyển tôi làm chân bảo vệ, suốt ngày ngồi chơi xơi nước ở phòng thường trực. Thấy tôi vô tích sự, Thuỷ nhí nhảnh:
"Người đã ngồi ở đó
Trong căn nhà thật buồn
Đốt trên đầu điếu thuốc
Những tháng ngày buồn nôn...."
Không cần chú ý đến niềm u uẩn trên mặt tôi, cô bé cứ liếng thoắng:
- Chú Quang ơi! Cháu đi mua rượu cho chú nghen. Vừa nói Thuỷ vừa cầm cái vỏ chai và lục ngăn kéo lấy mấy trăm tiền lẻ rồi chạy vù ra quán.
Bao giờ trở về cô bé cũng rót sẵn rượu vào ly cho tôi và hồn nhiên:
"Một ly nhâm nhi tình bạn
Hai ly uống cạn tình sầu...".
Chẳng cần biết tôi có khó chịu hay không cô bé cứ mặc nhiên tung tẩy.
Ngoài giờ lên lớp cô bé cứ chạy loăng quăng ở phòng thường trực suốt ngày. Nhiều khi tôi có cảm giác đã gặp Thuỷ đi mua rượu. Cô bé một lần nói với tôi:
- Buổi tối đã buồn mà chú lại ngồi uống rượu một mình cháu thấy thảm thảm làm sao ấy!
Biết nói thế nào với cô bé. Tôi phải vỗ giấc ngủ bằng rượu. Có thức cũng chẳng biết làm gì.
Mấy thằng bạn làm ăn ngày càng thành đạt. Chiều chiều chúng phóng xe hơi về tụ tập chỗ tôi bàn công chuyện, hẹn hò bồ bịch. Đứa nào cũng quý Thuỷ như tôi.
Một lần Hoà hỏi Thuỷ:
- Cháu bao nhiêu tuổi rồi?
Cô bé lắc đầu.
- Thế bố mẹ cháu làm gì?- Hoà quan tâm.
- Không biết - Thuỷ đáp - Cháu sinh ra từ nước và sẽ trở về với nước.
Tôi giật mình.
"Em sinh ra từ mây và sẽ trở về với mây!"
Hai mươi năm trước Vân đã nói với tôi như vậy. Ngày ấy nàng hai mươi tuổi. Nàng biến khỏi đời tôi dần dần như đã đến. Từng mảnh hai mươi năm trước cứ đồng hiện , nhập nhoà....
"Vân thích nghề sư phạm chứ?" - Tôi hỏi.
Nàng không trả lời thẳng:
- "Anh thích ngành kiến trúc?".
- "Tất nhiên!" - Tôi cười.
- "Em chỉ muốn trở thành nhà văn. Khai thác mọi khía cạnh trong cuộc sống mà viết" - Giọng Vân xa vắng.
Nụ cười của tôi tắt ngấm khi nét mặt đăm chiêu vắt ngang vầng trán của nàng.
Tôi không hiểu sao nàng chơi thân với đám bạn tôi đến thế! Là người sống bằng những linh cảm, nàng khó hiểu với cánh sinh viên sư phạm. Thế nhưng đêm đêm nàng lại nhập bọn với chúng tôi, lang thang mọi nẻo đường, xó xỉnh phố phường.
Vân ví cả nhóm là lũ đười ươi. Chuỗi ngày sinh viên: Hôm qua mông lung; hiện tại vô sự, trống rỗng; tương lai mơ hồ. Cả bọn co cụm lại phá phách, sống không khác người mộng du bao nhiêu. Hễ chúng tôi hát thì Vân cũng hát, các ca khúc không đầu không cuối. Rồi Vân múa may, tung chưởng, đọc thơ, đá bóng loạn xà ngầu như một thằng con trai. Vân đánh đấm, xô đẩy với Hoà, Anh... đám thanh niên không chút ngượng ngùng. Khi tách riêng với tôi, nàng lại nói đến cát bụi, kiếp sống phù du, bèo bọt, cảnh tù túng, nỗi tuyệt vọng về bản thân và niềm vui nếu được chết.
Hoà phản đối ầm ĩ tình yêu của tôi dành cho Vân. Theo Hoà, Vân quá ngổ ngáo, không chút nữ tính. Với tôi thì Vân quá đỗi dịu dàng.
Đến một ngày Hoà nhìn Vân buồn buồn. Tôi hỏi. Nó kể cho tôi nghe điều nó đọc được trên bàn viết của Vân.
Một nàng Vân khác hiện ra trước m
ắt Hoà. Thì ra Vân tham gia các cuộc chơi để thử thách mình, để củng cố đức tin về bạn bè. Để biết mình có thể sống theo một số ý muốn người khác mà không đánh mất mình. Cũng chỉ trong những đêm lang thang, Vân mới quan sát phố phường kỹ lưỡng. Mới nhận ra được rõ ràng bên cạnh những biệt thự lộng lẫy nguy nga là các dãy nhà, lều vá víu, ọp ẹp. Dân cửu vạn làm thuê và đám bụi đời, du đãng lăn lóc khắp vỉa hè. Vân cũng hiểu hơn những trăn trở cùng nỗi đau khuất lấp của bạn bè. Tự Vân cũng phát hiện con người trái của minh: Vừa đức hạnh, vừa nổi loạn, vừa tỉnh táo, vừa cuồng điên, vừa tự tin vừa bi quan vừa vị tha vừa bất cần vừa từng trải vừa ngây thơ....
Hoà cho Vân có lý khi viết: "Khó nghèo câu thúc mọi cuộc vui....". "Đã đến lúc ta phải rời cuộc chơi vô bổ...".
Vân trở về với đúng con người nàng: Khép kín, thờ ơ, tách biệt với xung quanh. Nhóm tôi tan vỡ dần sao đó. Hoà, Anh bỏ đi chạy "sô" kiếm tiền. Tôi lao vào học, đầu óc đầy những ước mơ và hoài bão không tưởng. Nàng tiên đoán được sự thất cơ của tôi, nàng nhận ra những khoảng trống bất trắc trên lộ trình mà tôi đang dấn thân đơn độc. Không muốn tôi ra đi nhưng nàng không níu giữ. Nàng thừa hiểu tôi sẵn sàng từ khước tình yêu để đuổi theo hư danh? Hay nàng biết chúng tôi thuộc về hai thế giới khác nhau, khó mà song hành trong đường đời?
Mấy năm du học, tôi nắm vững lý thuyết kiến thức những vila trên mây, thành phố trên mặt biển. Về nước, tôi vỡ lẽ ra rằng kiến thức của mình có khả năng áp dụng trong nền kiến trúc Việt Nam vào những năm ba nghìn. Chạy chọt mãi tôi cũng được nhận vào làm giảng viên ở trường kỹ thuật nọ. Một thời gian tôi bị sa thải mà chính tôi cũng không rõ lý do. Tôi rất buồn phiền. Nhất là khi nghe vợ và con cái cứ cằn nhằn tôi là "ông thờ chữ". Một phần vì thói quen đọc sách đến thành nghiện của mình.
Thuỷ nói:
- Không hiểu sao nhìn thấy chú, cháu cứ nghĩ đến các nhân vật của Samuel Betkett(1)
Hễ thấy tôi ngồi ưu tư là cô bé tinh nghịch:
- Chú Quang ơi! "Trong khi chờ Go Dot"(2), chú hãy.... - Bao giờ cũng có một việc ngộ nghĩnh nào đó mà cô bé nghĩ ra.
Hoà bảo tôi:
- Mình hiểu vì sao ông quý cái Thuỷ, nó giống Vân.
Thì ra vậy, lúc nào tôi cũng ngờ ngợ mình gặp Thuỷ ở đâu.
Nghe Hoà nói, tôi nhận ra Thuỷ là phiên bản cuộc đời Vân.
- Thuỷ quá vô tư, làm sao giống Vân được?
- Ngược lại về hai mươi năm, ông sẽ không cho như vậy - Hoà đáp.
Tôi nhớ gã đàn ông - bố của Hoàng Hoa cùng phòng Thuỷ. Hắn vẫn thường đến thăm con gái. Gương mặt đĩ thoã của hắn rất đáng ghét, khi thấy mấy cô nữ sinh đáng tuổi con mình gã cứ nhìn hau háu.
Thuỷ thường pha cà phê giúp chúng tôi. Có lần Hoà khen Thuỷ - Hoàng Hoa kể:
- Bố cháu bảo chị Thuỷ là thiên thần. Thiên thần bị đoạ đầy.
Nhiều lần đến mười một giờ đêm, có chuông báo nghỉ, mọi người về phòng cả, Thuỷ vẫn ngồi nán lại dù chẳng có việc gì.
Tôi giục Thuỷ đi ngủ kẻo không tốt cho sức khoẻ, Thuỷ rùng mình:
- Cháu sợ phải đối diện với bóng mình, sợ bốn bức tường, sợ chiếu chăn nhàu nát lắm....
Tôi chú ý đến Thuỷ nhiều hơn và thấy Thuỷ quá lạc lõng trong khu nhà này. Không ý thức mình là một người đã trưởng thành, cần phải hoà nhập, quan hệ mật thiết với mọi người; hay Thuỷ lại cho rằng không có mình thì thiên hạ vẫn thế, chẳng có gì thay đổi?
Thuỷ làm sao sống được giữa đô thị phồn hoa? Cô bé quá đơn bạc. Cảm giác buồn nôn trước cuộc sống lại nằm sau trong vô thức của Thuỷ. Tuy không bao giờ nói ra điều đó nhưng tôi biết Thuỷ tởm lợm trước các bữa tiệc thừa mứa mà đám bạn tôi thường say sưa bù khú. Thuỷ từ chối thẳng thừng những lời mời mọc đánh chén của chúng tôi.
Anh hỏi Thuỷ:
- Cháu chê à! Sao không lần nào cháu ăn dù bọn chú tha thiết mời?
- Cháu không thích - Thuỷ đáp.
- Thế cháu thích ăn gì? Làm sao cháu sống nổi - Tôi hỏi tiếp.
- Cháu quang hợp mà sống - Thuỷ cười phá lên.
- Cháu cứ thế này chú đâm xót xa lo lắng dùm. Bọn chú, nếu không có những cuộc nhậu nhẹt vui say cùng bạn bè chắc tự sát vì chán lâu rồi. - Tôi bộc bạch với Thuỷ.
- Cháu cũng đã một lần tự sát nhưng chết không dễ đâu chú ơi - Thuỷ cứ nói chơi chơi nhưng tôi biết cô bé không đùa.
Tôi gieo mình xuống ghế như nghe thấy lời Vân:
"Em đã một lần tự trầm trong ý thức dị đoan rằng nước sẽ cuốn hình hài mình ra biển. Rồi sóng sẽ mang sang một xứ sở không có bến bờ. Em nghĩ chết là để giải thoát, linh hồn sẽ được về miền cực lạc.
Thuỷ thở ra với tôi:
- ấy là khi gia đình cháu bị phá sản. Ba cháu đi tù, các anh chị bỏ nhà đi hoang, má cháu mang bệnh. Cháu tuyệt vọng và mong kết thúc mọi khổ đau. Cháu được cứu sống như là định mệnh quyết định mình chưa được kết thúc cuộc đời lúc đó. Vì sao như thế cháu cũng chịu, không thể hiểu.
Trong ngôi trường thật buồn, bao ngày đã trôi qua chầm chậm. Ngày nào cũng na ná như nhau. Một thời gian sau tôi chán, nên chuyển sang làm áp phe, buôn bán với bọn Hoà - Anh.
Nhiều đêm vui chơi về muộn, tôi thấy Thuỷ lang thang trên đường với cánh nam sinh, tôi lo âu về cô bé một điều rất vô lý. Tôi thầm so sánh bản lĩnh Thuỷ và Vân. Tôi mệt mỏi lắc đầu.
Một chiều nọ có việc ở trường, nhân tiện tôi ghé thăm Thuỷ. Tôi ngạc nhiên khi những người cùng phòng với Thuỷ cho tôi biết Thuỷ đã bỏ học đi đâu không ai rõ. Có người bảo Thuỷ chuyển trường, có người bảo Thuỷ theo chồng, có người nói Thuỷ đi tu.... Tôi thất vọng quay về. Chợt tôi se lòng khi nghĩ đến Vân.
Hai mươi năm trước Vân cũng thế. Tôi chia tay Vân và nàng hẫng hụt. Tôi được gì đâu ngoài chuỗi ngày sống vay mượn, lay lắt. Lúc nào cũng khắc khoải đợi chờ. Cứ đón nhận những điều mình không muốn một cách phi lý đến lố bịch. Còn số phận Vân nổi chìm đâu đó ngoài miền hiểu biết của tôi.
268




Có thầy đề (thư ký ngày xưa) tính hay nịnh quan, hễ trông thấy cái gì hơi khác một tí là vơ lấy, tán luôn. Một hôm, quan đang ngồi ở công đường, thầy đề đứng hầu bên cạnh, trông ra sân thấy con vịt đứng ngủ, co một chân lên. Thầy liền tìm chuyện, nói:


- Bẩm quan lớn, con vịt...


Không ngờ con vịt thức dậy, buông chân xuống. Quan quay lại hỏi:


- Con vịt làm sao, thầy?


Thầy luống cuống không biết nói gì, đáp liều:


- Bẩm, con vịt hai chân ạ!


Quan nghe thầy nói vớ vẩn, liền bảo:


- Vịt chẳng hai chân thì mấy chân, hở thầy!

2549




I


Hai mươi năm trước anh giống thằng nhóc lắm
Lủi thủi theo sau áo trắng tan trường
Rồi chiếc áo băng qua đường, biến mất
Anh tiếc hoài cái kẹp tóc cô nương


Anh bịnh thương hàn suốt... ba ngày chẵn
Cái tội lang thang quên béng nắng trên đầu
Mà nếu có chết anh cũng không hối hận
Chỉ sợ tan trường có kẻ lén theo sau...


Chỉ một mình anh đau, một mình anh ốm
Còn riêng em đừng thương hại ngoái nhìn
Hai mươi năm trước anh giống thằng nhóc lắm
Anh độc quyền buồn ngay cả lúc... làm thinh


II


Còn bây giờ anh khác thằng nhóc lắm
Ngồi xổm lan can và gặm bánh mì
Chờ áo trắng tan trường ơi áo trắng
Anh trải thơ tình để lót bước em đi


Nếu em bắt chuyện tất nhiên anh lơ đãng
Trời thì xanh, xe cộ rất nhiều màu
Anh quên màu trắng đến khi em hốt hoảng
Mới quay lại cười một cái dễ... xa nhau


Nếu em dửng dưng tất nhiên anh hét lớn
Em sẽ quan tâm hỡi cô gái tò mò
Thấy chưa, bây giờ anh khác thằng nhóc lắm
Ai dại độc quyền chịu đựng nỗi buồn... xo !

2930






Mấy hôm nay tôi thèm viết ghê lắm, bởi trí óc tôi dạo này lộn xộn, không thứ tự, ngổn ngang. Có lẽ tại cái nắng nơi đây đã làm gẫy vụn, làm tê liệt giây thần kinh chữ nghĩa trong tôi, đã biến đầu óc tôi như một căn nhà trống rỗng, kín mít, không cửa sổ để có thể thoát ra ngoài. Cái nắng hạ chói chang, nắng như thiêu như đốt nơi này đã làm cong queo những nỗi buồn, khiến chúng chênh vênh, rời rạc. Để tôi thèm một cơn mưa đi về cho ẩm đất, cho tươi cây cỏ. Cho tôi ngồi móc lại, nối lại thành một chuỗi dài để bỏ lên trang giấy, để thả vào hư không cho quên đi nỗi đau mình.

Điện thoại cell phone rung lên chưa kịp mở máy, tiếng rung tắt lịm. Điện thoại trên bàn chợt reo:
- Ti ơi, Ti biết chuyện gì chưa?
- Dạ chuyện gì hả chị?
- Chị mới nghe tin chồng của Linh vừa mất nên gọi cho Ti hay...

Tôi lặng người chết điếng trong lòng, không thốt nên lời. Chỉ trong vòng mấy tháng hè mà đã có 3 người bỏ đi... những người tôi quý mến. Họ đi nhanh quá, đi không kip từ giã nên tôi cũng không kịp một lời nhắn nhủ theo họ về bên ấy, nơi chỉ có bình an, nơi không suy tư khốn khổ, nơi đã quên hẳn nơi này.

Bạn bè mới ngày nào, như những con chim ríu rít bên nhau, ngây thơ chưa biết đời, biết người. Thoảng như một giấc mơ đã bay tản mác khắp nơi, tám phương, mười hướng. Mỗi đứa một cảnh đời, mỗi đứa một đường đi, không biết đến khi nào mới có cơ hội gặp nhau. Vừa rồi may mắn được gặp lại Trang, để nhớ đến những đêm Noel nói dối mẹ đi lễ nhưng thật ra đã cùng bạn bè tham dự những party bỏ túi, với những bước chân e thẹn ngập ngừng trên sàn nhảy. Để nhớ đến con chim giấy ngày nào được phóng từ đầu bàn bên kia lớp học bay đến chỗ tôi ngồi, con chim giấy cầm chơi trong tay, ngắm nghìa, mân mê chán định vo tròn vứt vào hộc bàn, bỗng Trang hét lên quên mình đang ở trong lớp học..."Ê mày, đừng vứt đi, thư anh tao trong đó..." tiếng hét của Trang làm cả lớp giật mình, làm tôi ngượng đỏ mặt. Gặp nhau mừng rỡ tưởng chừng như một phần đời của mình sống lại. Vừa xuống xe, Trang đã đứng chờ trước cửa tiệm cười thật là tươi:
- Trời ơi Ti, Ti vẫn vậy, Ti không thay đổi mấy.

Tôi vẫn vậy sao? hay Trang lịch sự nói cho tôi vui lòng? tôi bây giờ đã khác xưa nhiều chứ, tôi bây giờ buồn hơn xưa, không còn líu lo như chim mà mẹ tôi vẫn than buồn khi không có tôi ở nhà... Tôi bây giờ có còn là tôi ngày xưa không?... Những câu hỏi tới tấp không kịp trả lời nhau, khuôn mặt vẫn còn giữ được phần nào nét của ngày xưa để khỏi phải ngỡ ngàng nhận diện. Hai đứa gặp nhau, tíu tít đủ chuyện, chuyện của áo trắng thuở nào. Chuyện của những lần trốn học đến nhà bạn bè tập nhảy, chuyện cúp cua những giờ học khô khan khó nuốt để chui vào rạp Cine vừa xem vừa thút thít, ra khỏi rạp đứa nào mắt cũng đỏ hoe, phải dán lên mặt cái kính đen cho không ai để ý. Nhắc đến Noel năm nào, cả đám con gái mặc mini ngồi gác chân dựa vào tường, đâu ngờ tường chỉ là một tấm màn sau lưng nên cả đám ngã kềnh đưa chân lên cao cho mọi người được dịp cười thỏa thích, trong khi cả đám mắc cỡ không dám bước ra ngoài...nhắc lại cả tôi và Trang đều tưởng như mới xảy ra cho hai đứa cười khúc khích. Hai đứa nói đủ chuyện... Trang kể tôi nghe chuyện của Trang, chuyện ba chìm bảy nổi. Tôi kể Trang nghe chuyện của tôi, chuyện đã cũ thế mà mắt vẫn ướt, môi vẫn run...kể chuyện mình chán đến chuyện bạn bè. Chuyện có đứa gẫy gánh giữa đường, có đứa hạnh phúc bầm dập, có đứa bỏ học ngang lấy chồng ra tận ngoài Huế, sanh 1 lượt 7 nàng công chúa chỉ vì cứ ráng tìm một hoàng tử nối ngôi, thế mà cũng đành chịu thua trong khi có đứa mong mỏi 1 lần làm mẹ cũng không được. Có đứa vừa tìm thấy hạnh phúc cho riêng mình, có đứa vừa cùng chồng sang được bên này nhưng các con còn lại...

Hai đứa nói chuyện suốt mấy đêm liền, chuyện dài chuyện ngắn, nhớ được chuyện gì kể hay hỏi chuyện ấy, chẳng cho nhau lấy một giờ nhắm mắt dù chỉ còn vài tiếng nữa phải ra phi trường. Thế mà bây giờ ngồi đây lại chợt nhớ những điều quên nói, quên hỏi. Giờ nghe tin con bạn bên kia trời đông đang quằn quại, đang đau đớn với khăn trắng trên đầu. Nghe chị tôi báo tin mà chết lặng đến không thốt nên lời, nước mắt rơi xuống má ướt mặn môi lúc nào không hay. Con bạn tội nghiệp của tôi từ lúc biết yêu cho đến bây giờ hạnh phúc vẫn không tròn trịa... Tôi tìm số ĐT của Linh gọi về. Linh như chưa hoàn hồn với những gì mới xảy ra hay sao mà lại không nhận được giọng nói của tôi, cứ hỏi đi hỏi lại:
- Xin lỗi ai đầu giây đó?
- Linh ơi! Ti đây!
- Ti nào?
Tôi cố nói tên mình cả chục lần mà Linh bên kia đầu giây vẫn không nhận ra, cứ hỏi mãi, tức quá tôi gắt lên trong điện thoại:
- Con khỉ, tao Ti đây chứ ai mà cứ hỏi hoài.
Lúc đó Linh mới nhận ra, hay lúc đó mới tỉnh người vì cái hét của tôi trong máy. Nhận ra tôi, Linh mừng quýnh:
- Ồ, mày hả? vậy mà tao cứ tưởng cô nào, giọng mày nghe như giọng con gái.
Tôi kêu lên:
- Rõ vô duyên, thế giọng như thế nào thì mới là giọng bà già? nãy giờ tao gọi mấy lần mà không ai bắt phone.

Thế là hai đứa cứ mày tao như xưa. Giọng Linh sũng nước mắt:
- Mày biết ông xã tao vừa mất không?
Nghe Linh hỏi, mắt tôi cay cay:
- Biết, chị tao mới cho hay nên gọi về cho mày đây, anh ấy sao vậy?
- Bị ung thư nhưng không biết, lúc biết thì muộn rồi, không kịp nữa.
- Gia đình anh ấy có biết tin chưa? có ai về không?
- Biết nhưng không về được
- Vậy mày lo cho anh ấy đến đâu rồi?
- Mời đưa đi xong, tao vừa bước vào nhà là mày gọi.
Im lặng một lúc, Linh tiếp:
- Mày có biết ông xã tao không?
Nghe Linh hỏi ngớ ngẩn, tôi nhíu mày tưởng như Linh có thể thấy được:
- Mày nói gì lạ vậy? Chuyện mày với ông ấy quen nhau sau khi ông ấy đi học tập về sao tao lại không biết? Lúc đó tao vẫn còn ở nhà mà. Sau đó năm 96 tao có về VN thăm gia đình. Ông ấy chở mày đến, Trong tiệc giỗ, mời anh ấy 1 lon bia, anh ấy từ chối nói: "Anh không dám uống đâu, anh mà uống là anh gục luôn, không dậy nổi, anh thèm ngủ lắm mà không có thì giờ ngủ, anh thèm một giấc ngủ dài..." mày nhớ chưa?

Nhắc lại với Linh lời của chồng Linh mà lòng tôi xót xa, cổ tôi như muốn nghẹn...Ừ anh thèm một giấc ngủ dài, bây giờ anh toại nguyện rồi nhé, anh ngủ có ngon không? anh có biết là bạn em đang quằn quại, khốn khổ vì mất anh không? anh có tội nghiệp nó không?... Giọng của Linh cất lên làm tôi giật mình:
- Ừ nhỉ, tao quên, dạo này tao hay quên quá.
Tôi an ủi:
- Tao cũng vậy, có khi tao chẳng nhớ hôm qua đi làm mặc gì, màu gì nữa.
Tiếng Linh buồn rũ:
- Tao nhiều lúc không nhớ được là mình đã ăn cơm hay chưa...
Nghe giọng Linh tôi thấy thương bạn vô cùng, chồng Linh cũng có bố mẹ anh em ở Canada
thế mà không bảo lãnh gia đình Linh sang, chỉ có ông bà thỉnh thoảng dắt nhau về... Tôi chẳng hiểu vì sao, chỉ biết có lần anh tâm sự khi em tôi sang Mỹ, sang Canada thăm gia đình trở về:
- Anh cũng có gia đình ở Canada, thế mà anh lại không may mắn được như cậu, anh thèm và ước ao được gặp lại các em anh...

Linh như quên đi cái đau trong chốc lát, hay có lẽ mấy hôm nay vật vã, khóc lóc nhiều nên không còn nước mắt để khóc, hay cái đau đã tận cùng nên không còn đau hơn được nữa. Hai đứa nói đủ chuyện, hỏi thăm về gia đình, con cái, hỏi thăm về bạn bè. Hứng chí tôi nói với Linh:
- Khi nào retired, tao về VN ở luôn.
Linh mừng rỡ kêu lên:
- Ừ, mày nhớ về ở với tao, nhà tao bây giờ rộng quá, tụi nhỏ rồi cũng đi hết, chỉ còn mình tao thôi.

Tôi bốc đồng trong giây lát quên cả suy nghĩ, nhưng khi nghe Linh nói, tôi định hỏi Linh "Tao về ở với mày, thế ông xã tao thì sao?" nhưng thấy Linh cứ ríu rít nên tôi im, tôi không dám lên tiếng bởi bạn tôi đang lẻ loi, đang một mình. Hỏi địa chỉ của Linh, Linh dẫy nẩy:
- Mày hỏi địa chỉ làm gì? mày định gởi gì?
Tôi nói quanh:
- Gởi gì? hỏi để biết thôi.
- Mày định gởi tiền cho tao chứ gì? đừng gởi, tao chưa cần, khi nào cần tao sẽ xin.
- Mày đừng có vớ vẩn, lúc mày xin tao không có thì sao? đưa địa chỉ lẹ lên. À này, mày có địa chỉ e-mail không? thỉnh thoảng nhớ viết thư cho tao.
- Tao không biết dùng e-mail, con tao nó chỉ mấy lần mà cứ quên tuốt. Mày chịu khó viết bằng tay cho tao đi.
Tôi kêu lên:
- Trời ơi, bây giờ mà mày bảo tao viết thư bằng tay thì bao giờ mới có thư cho mày đọc? Gõ thì tao gõ còn lẹ chứ ngồi viết nắn nót rồi chạy đi bưu điện gởi coi bộ chẳng bao giờ mày có thư đọc quá, vả lại thì giờ đâu mà ngồi viết?
Linh băn khoăn:
- Nếu thế mày cứ viết thư cho tao qua địa chỉ e-mail của em mày, nhận được tao đưa ra ngoài thuê họ viết thư trả lời cho mày ngay.
Nghe Linh nói, tôi thắc mắc:
- Mày nói thuê cái gì?
- Thuê người ta viết thư hộ, bên này bây giờ có dịch vụ viết thư giùm, lẹ lắm.
Tôi ngẩn người ngạc nhiên:
- Nhưng sao mày lại phải thuê người ta viết thư cho tao? Để làm gì?
Linh vẫn thản nhiên như không biết cái hoang mang, cái thắc mắc của tôi:
- Thì thuê họ viết thư trả lời cho mày, chỉ có 3000 đồng thôi.
Nghe Linh nói, tôi kêu lên như không tin những gì tôi vừa nghe:
- Cái gì? mày nói thật hay nói đùa? tay chân chữ nghĩa mày đâu hết rồi mà đến nỗi phải bỏ tiền thuê người viết? mày sao vậy? điên hả?
- Thật chứ đùa gì, tao bây giờ đầu óc mụ đi không viết được nữa, nhờ con cái thì tụi nó sức mấy mà ngồi yên cho mình nhờ.

Tôi lặng người, tôi không ngờ Linh ngày nay lại như vậy. Tôi không thể tin được con bạn của tôi ngày nào, Linh ngày xưa tự tin, dáng đẹp, hát hay, văn chương giỏi, là một trong những cây viết bích báo trong trường thế mà hôm nay lại bị tuột dốc một cách thảm hại như vậy sao?... Có phải bạn tôi đang lăn xuống triền dốc cuộc đời của mình không?... tai tôi ù đi, tôi nghe Linh cắt nghĩa vì sao, vì sao mà lòng tôi đau, tim tôi nhói, nước mắt tôi long lanh, tôi thấy nghẹn ở cổ, tôi thấy thương và tội nghiệp Linh, tôi ước tôi có thể về VN ngay lúc này để ôm Linh trong tay, để được khóc với Linh, để cùng chia sẽ những nỗi bất hạnh mà Linh đang cưu mang, để hâm nóng lại thời con gái đã qua, để làm sống lại một tiềm thức đang ngủ mê cho bạn tôi tỉnh táo hơn ra... Nhưng tôi không về được.

Tôi cầm điện thoại cố nén tiếng nấc mà nước mắt tuôn dài. Bạn của tôi thê thảm đến thế sao?... còn những người bạn khác của tôi hiện giờ sống ra sao? Đang tản mạn nơi nào? có hạnh phúc? có bình an hay cũng lao đao lận đận? Thời gian đi nhanh quá, như những bánh xe quay càng lúc càng nhanh. Tôi không dám đứng lại, tôi sợ mình bị nghiền nát bởi những vòng quay vô tình ấy. Những vòng quay của giòng đời đang biến đổi chúng tôi thành những người đàn bà khác biệt nhau, những con đường riêng rẽ mà tất cả chúng tôi đều phải đi tới với con đường trước mặt. Trái tim tôi đau vô cùng. Tôi vội bỏ điện thoại xuống, quay sang nhà tôi đang đứng gần, bật khóc:
- Anh, sao bạn em kỳ vậy? sao nó có thể biến thành một người như vậy được?... Tại sao?
2063





Tôi chẳng khi nào lưu lại vùng quê một thời gian dài. Ở đó thật buồn. Tôi muốn đi đây đi đó, muốn thấy những miền đất lạ, gặp gỡ mọi người. Nhìn chung, đó là một cuộc sống dễ chịu. Khi cần tiền thì tôi kiếm việc làm. Tôi có thể làm đủ thứ - từ việc nhà hàng, khách sạn, đến xây dựng và thu hoạch trái cây. Ở Châu Âu người ta có thể thu hoạch trái cây hầu như quanh năm. Tất nhiên, bạn cần có mặt đúng nơi, đúng lúc. Đấy không phải là công việc nhẹ nhàng, tuy nhiên cũng kiếm được kha khá.
Mùa đông tôi thích đi về phương nam. Sinh hoạt dưới ánh mặt trời thật dễ chịu, còn Bắc Âu mùa đông vô cùng lạnh giá. Tháng 10 năm ngoái tôi ở Venice. Ba tuần liền tôi làm vài việc lặt vặt tại một khách sạn, sau đó tôi nhẩn nha dời xuống phương nam. Khi nào có thể tôi luôn luôn đi tàu. Tôi thích tàu hoả. Trên tàu người ta có thể đi lại, có thể gặp gỡ nhiều người.
Tôi rời Venice và đi Trieste. Tôi mua vé loại thường đi tàu chậm tới Sofia. Chuyến tàu này qua Nam Tư và mất khá nhiều thời gian - một ngày rưỡi cả thảy. Nhưng với tôi việc đó chẳng thành vấn đề.
Tàu rời Trieste lúc 9 giờ sáng thứ năm. Lúc đầu khách vắng hoe, nhưng tới Zagreb khách lên đông hơn. Hai cô gái đi dọc hành lang qua khoang của tôi. Họ dòm qua cửa nhưng lại bỏ đi. lát sau một phụ nữ đứng tuổi bước vào. Tìm được chỗ của mình bà liền lăn ra ngủ. Hai cô gái đi ngược dãy hành lang và lại nhìn vào khoang. Tàu dời Zagreb. Tôi nhìn qua cửa sổ chừng mươi phút rồi cũng chìm vào giấc ngủ.
Khi tôi thức giấc, hai cô đã có mặt trong khoang. Trông họ có vẻ thân thiện vì thế tôi lên tiếng:
- Chào các cô.
- Chào anh! - họ đáp lại.
- Các cô là người Mỹ - tôi nói - Hoặc người Canada, phải không?
- Người Mỹ - cô cao hơn đáp và nở nụ cười - Còn anh 23 tuổi, tên anh là Tom Walsh, anh có cặp mắt xanh và mẹ anh sống ở Bumham bên Anh chứ gì?
- Làm sao cô biết tất cả những thông tin đó? - tôi hỏi. Cô thứ hai phá lên cười: " Thì người ta xem hộ chiếu. Nó nằm trong túi áo khoác của anh đấy thôi" .
" Ồ, phải rồi" . Chiếc áo khoác nằm trên ghế sát bên tôi. Tôi lấy cuốn hộ chiếu ra khỏi túi và nhét vào trong túi xách - Thế các cô là ai? - Tôi hỏi.
Họ đáp lời tôi. Melanie và Carol quê Los Angeles. Họ nói thích Châu Âu. Họ nói đã đến nhiều xứ sở: Anh, Hà Lan, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Italia, Đan Mạch, Nam Tư, Bulgaria, Hy Lạp...
- Tôi đang trên đường tới Bulgaria - tôi nói - Ở lại đó khoảng một tháng. Sau đó tôi sẽ rời xuống miền nam sống qua mùa đông. Tôi sẽ đến Síp, cũng có thể là Bắc Phi" .
- Ồ, vậy sao? Chúng tôi yêu đất nước Bulgaria. Sofia là một thành phố tuyệt vời" .
- Các cô làm gì để kiếm tiền nào?
- À, anh biết không - Carol mỉm cười - Đôi khi chúng tôi kiếm một việc vặt vãnh nào đấy. Thôi thì đủ cả. Thế còn anh?
- Phải đấy - Melanie xen vào - Kể cho chúng tôi nghe về anh đi - chàng Tom Walsh có cặp mắt xanh. Anh đang làm gì vậy hả?
Thế là tôi kể cho họ nghe. Họ là những cô gái tốt. Họ lớn tuổi hơn tôi, có lẽ độ 27, 28 gì đó, nhưng tôi mến họ. Chúng tôi chuyện phiếm và cười đùa hàng tiếng đồng hồ. Tôi kể họ nghe nhiều chuyện về đời mình. Một số chuyện là có thật, một số thì không. Tuy nhiên cả hai đều cười và bảo rằng tôi là một gã cừ. Tôi hỏi họ về Bulgaria bởi tôi không biết gì về xứ ấy. Họ nói họ biết rõ Sofia.
" Này Carol - Melanie cất lời - Chúng mình sẽ ở Bela Palanka một hai ngày rồi cuối tuần này qua Sofia gặp Tom. Chúng mình có thể gặp cậu ấy vào đêm thứ bảy tại khách sạn Marrmara" .
" Tuyệt! Đó là một khách sạn ngon lành - Carol bảo tôi - Rẻ nhưng tốt. Anh nghĩ sao hả Tom?" .
- Còn gì bằng! - Tôi đáp - Cứ thế nhé.
Tàu đi rất chậm. Mãi sáu giờ tối chúng tôi mới đến Belgrade. Nhiều hành khách xuồng tàu. Lúc này trong khoang chỉ còn tôi và hai cô gái. Trưởng tàu đi tới kiểm tra vé của chúng tôi rồi lại bỏ đi.
Carol đưa mắt nhìn Melanie: " Này Mel, sao cậu và Tom không xuống toa hàng ăn nhỉ? Mình không thấy đói và mình muốn chợp mắt khoảng một tiếng đồng hồ" .
- Ờ... đồ ăn trên tàu đắt lắm - tôi nói - Lúc này tôi lại chẳng dư dả gì cho lắm. tôi sẽ kiếm việc làm ở Sofia.
- Ôi, Tom! - Melanie thốt lên - Sao anh không nói với chúng tôi? Xem này, anh là một chàng trai tử tế phải không nào? Chúng tôi còn đủ tiền cho tuần này. Chúng tôi có thể đãi anh mà.
- Tất nhiên rồi - Carol tán thành - Mà này, đến Sofia, chúng tôi có thể đưa anh vào một nhà hàng sang trọng nhất thành phố. Đó là một nơi hết ý. Chúng tôi thích chỗ đó lắm.
Tôi còn có thể nói gì chứ? Tôi đang đói. Họ lại có tiền còn tôi thì không. Thế là tôi và Melanie xuống toa hàng ăn lót dạ. Khi chúng tôi quay lại, Carol vẫn ở một mình trong khoang. Melanie thả chân lên ghế và thiếp đi.
Đến Nis thêm một số hành khách lên tàu. Có hai ông lão vào khoang chúng tôi. Họ vừa nhìn chân Melanie đặt trên ghế vừa nói chuyện ầm ĩ. Carol phì cười, còn Malanie mở mắt và ngồi bật dậy:
- Chúng mình sắp đến chưa? - cô hỏi Carol và nhìn ra ngoài cửa sổ.
- Sắp đến rồi. Khoảng nửa tiếng đồng hồ nữa, mình nghĩ gì vậy.
- Tại sao các cô lại xuống Bela Palanka? - tôi hỏi - Các cô sẽ làm gì ở đó?
Malanie mỉm cười: " Tìm một khách sạn rẻ tiền, gặp gỡ mọi người, thăm thú thành phố... anh biết đấy" .
- Chỉ một hai ngày thôi mà - Carol nói.
- Nhưng có quái gì ở đấy đâu!
- Ồ, anh chẳng biết được đâu - Malanie cười - Gặp anh ở Sofia, được chứ? Đêm thứ bảy đấy.
- Khách sạn Marmara. Lúc 8 giờ" , Carol bổ sung - Đừng quên nhé!
- Nhất định rồi - tôi đáp - Hẹn gặp lại hai cô ở đó.
Tàu vào ga Bela Palanka và dừng bánh. Hai cô gái xuống tàu và đứng lại trên sân ga. Qua cửa sổ họ mỉm cười với tôi. " Thứ bảy. Lúc 8 giờ" , Malanie hét lên. " Nhớ rồi" , tôi đáp. Họ không nghe được lời tôi bởi tiếng ồn ào trên sân ga. Họ mỉm cười, nhấc túi xách và bước đi. Quả là những cô gái tuyệt vời. Tôi nghĩ mình sẽ có những phút giây thú vị tại Sofia.

o0o

Tàu rời Nam Tư và vượt qua biên giới vào Bulgaria lúc 2 giờ sáng. Sau đó dừng lại tại một làng nào đó mà tôi không nhớ tên. Tôi ăn một quả táo và ngó qua cửa sổ. Bỗng nhiên có nhiều cảnh sát xuất hiện trên tàu. Hành khách trên khoang đứng cả dậy và bắt đầu xầm xì.
- Chuyện gì đang xảy ra thế? - Tôi hỏi ông lão ngồi bên bằng tiếng Italia.
- Tôi không biết - Ông trả lời bằng thứ tiếng Italia tệ hại - Có lẽ họ tìm một người nào đó. Xem kìa. Cảnh sát đang hỏi một số người vừa xuống tàu.
Lát sau hai viên cảnh sát bước vào khoang của chúng tôi, một người cao gầy còn người kia thì thấp béo. Họ nhìn chăm chú vào từng người... và rồi lại hướng vào tôi.
- Làm ơn đi theo chúng tôi - Gã mập nói bằng tiếng Anh.
Tôi mở miệng nhưng cảnh sát có bao giờ thích những câu hỏi của đám thanh niên tóc dài. Vì thế tôi im lặng, xách túi và đi theo họ. Trong nhà ga có rất nhiều cảnh sát và một số người vừa xuống tàu. Tôi nhận thấy tất cả bọn họ đều còn trẻ. Một số tỏ ra sợ hãi, một số có vẻ rầu rĩ. Cảnh sát khám xét từng chiếc túi, và sau đó mọi người lại lên tàu. Hai viên cảnh sát dẫn tôi đến bên một chiếc bàn. " Làm ơn cho xem hộ chiếu của anh - gã mập nói. - Và làm ơn mở túi xách ra" . Họ kiểm tra hộ chiếu của tôi và mở túi. Bàn bên có một nữ cảnh sát trẻ có mái tóc đỏ. Cô ta có khuôn mặt dễ thương, vì thế tôi mỉm cười với cô ta và cô ta cười đáp trả.
- Aaah! - Gã cảnh sát cao kều bỗng reo lên. Tất cả mớ quần áo dơ của tôi đã được trút ra bàn. Gã nhấc chiếc túi của tôi lên và dốc xuống. Từng bó đôla Mỹ rơi khỏi túi xuống mặt bàn. Toàn những tờ đôla mới cứng. Những bó lớn toàn tờ 50 đô. Nhiều tiền quá.
Tôi há hốc mồm không thể thốt lên lời. Bỗng chốc tôi trở thành một người được quan tâm. Rất nhiều cảnh sát chạy đến đứng sau tôi.
- 50.000 .... 100.000 .... 150.000... Ở đây có đến 200.000 đôla - gã cao kều nói. - Chiếc túi mới tuyệt vời làm sao, thưa ngài Tom Walsh!
Tôi nhanh chóng hoàn hồn. " Nhưng đây đâu phải là túi xách của tôi!" - tôi hét lên.
Gã ngoác miệng cười đắc chí: " Lạ nhỉ. Có tên anh trên đó cơ mà. Nhìn xem!" .
Tôi đưa mắt nhìn, tất nhiên là có tên tôi, và đương nhiên đấy là túi của tôi. Làm thế nào mà 200.000 đôla lại chui vào đó được?
- Anh không được mang đôla Mỹ vào đất nước chúng tôi - gã mập nói. Gã có mái tóc xám cắt ngắn và đôi mắt đen ti hý. Gã ta không hề cười cợt.
- Nhưng tôi không mang chúng - tôi nói nhanh. - Chúng không phải là tiền của tôi. Trước đây tôi chưa từng nhìn thấy chúng, và...
Có nhiều tiếng ồn ào ngoài sân ga, tôi nhìn qua cửa sổ thấy con tàu. Nó bắt đầu từ từ lăn bánh.
" Này! - Tôi la lên. - Đấy là chuyến tàu của tôi..." .
Gã cao kều phá lên cười. Đây là một ngày trọng đại của gã. " Ồ không - gã nói. - Anh sẽ không lên chuyến tàu đó nữa, sẽ phải ở lại đây với chúng tôi, tại đất nước xinh đẹp này" . Gã cười đắc chí.
Thế là tôi không đến được Sofia vào ngày thứ bảy. Tôi rất tiếc vì điều đó. Tôi muốn nói đôi điều với Melanie và Carol, hỏi họ một hai câu. Anh là một tràng trai tử tế, Tom ạ. Hẹn gặp anh ở Sofia, được chứ? Đưa anh đến khách sạn sang trọng nhất thành phố. Phải. Tuyệt lắm.
Và tôi không đến được Síp cũng như Bắc Phi mùa đông năm ấy. Tôi phải đi cải tạo. Trong tù cuộc sống đâu có an nhàn. Tuy nhiên mùa đông ấy khá ấm áp và đồ ăn không đến nỗi tệ. Tôi gặp một số người thú vị. Có một người quê ở Georgia, một nơi bên bờ biển Đen, tên anh là Boris. Một gã rất cừ. Khi ra tù tôi và anh sẽ sang Australia... có lẽ đến Brisbane hoặc Sydney. Kiếm một việc làm trên tàu và bắt đầu một cuộc sống mới. Hy vọng mọi chuyện sẽ tốt đẹp.266




Cái Cười Của Thánh Nhân
Tác giả: Nguyễn Duy Cần


Trào Lộng U Mặc Là Gì?


Một nhà văn tây phương có viết:

"Tình yêu là một vị thần bất tử,
U mặc là một lợi khí,
Cười là một sự bổ ích.
Không có ba cái đo,ù không đủ nói đến văn hóa toàn diện" Cười

đùa quả là một sự bổ ích, u mặc quả là một lợi khí căng thẳng, ngột ngạt, cái khô khan của những chủ thuyết một chiều, cái máy móc của tâm hồn do văn minh cơ khí điều khiển uốn nắn... đang biến loài người thành những bộ máy vô hồn, không dám nói những gì mình nghĩ, không dám làm những gì mình muốn... mà chỉ thở bằng cái mũi của kẻ khác, nhìn bằng cặp mắt của kẻ khác, nghe bằng lỗ tai của kẻ khác... theo nghệ thuật tuyên truyền siêu đẳng của văn minh cơ khí ngày nay! Một con người hoàn toàn là sản phẩm của xã hội, chưa biết sống và dám sống theo ý mình... đó là mục tiêu chính mà u mặc nhắm vào.

Chính u mặc đã khiến cho bà Roland, khi lên đoạn đầu đài đã "cười to" với câu nói bất hủ này: "Ôi Tự Do, người ta đã nhân danh mi mà làm không biết bao nhiêu tội ác!"

Lâm Ngữ Đường, mà trí thức Trung Hoa tặng cho danh hiệu "u mặc đại sư" có nói: "U mặc là một phần rất quan trọng của nhân sinh, cho nên khi mà nền văn hóa của một quốc gia đã đến một trình độ khá cao rồi ắt phải có một nền văn hóa u mặc xuất hiện".

U mặc xuất hiện là để đặt lại mọi nghi vấn về các giá trị thông thường của xã hội mà đời nào cũng tự do là "văn minh nhất" lịch sử! Nhà văn Georges Duhamel khuyên người Tây Phương, trong hoàn cảnh hiện thời, cần phải đặt lại tất cả mọi giá trị của văn minh, vì chưa có xã hội nào trong văn minh lịch sử mà người trong thiên hạ điêu linh thống khổ bằng! Ở xã hội Trung Hoa ngày xưa, thời Xuân Thu Chiến Quốc, một thời đại điêu linh nhất đã phải sinh ra một ông Lão, một ông Trang, để đặt lại tất cả mọi giá trị của xã hội đương thời.

Nhà văn họ Lâm cho rằng: "Tinh thần ở u mặc Trung Hoa ngày xưa cũng đã thấy bàng bạc ngay trong kho tàng ca dao Trung Quốc. Trong Kinh Thi, Thiên Đường Phong, một tác giả vô danh, vì thấy rõ cái "trống không" của cuộc đời hết sức vô thường của con người, đã trào lộng hát lên:

Ngài có xe ngựa, sao không cưỡi, không tế...
Đợi lúc chết rồi, kẻ khác hưởng đi mất thôi!

Đó là một phần nào đã bộc lộ cái trạng thái u mặc.

Nhưng phải đợi đến nhân vật chủ não là Trang Châu xuất hiện, mới có được một thứ văn chương nghị luận ngang dọc... mở ra cho người đời một thứ tư tưởng và văn học u mặc hẳn hòi. Trang Tử là thủy tổ của văn học Trung Hoa.

Các tung hành gia như Quỷ Cốc Tử, Thuần Vu Khôn... điều là những nhà hùng biện trào lộng thật, nhưng vẫn chưa kịp phong thái u mặc thượng thừa của Trang Châu...

Nền văn Trung Hoa với "bách gia chư tử" đã phát triển rất mạnh. Người ta nhận thất rõ ràng có hai luồng tư tưởng khác nhau xuất hiện: Phái cẩn nguyện (Lấy lễ, nhạc, trang nghiêm, cung kính và nghị luận tuyệt đối một chiều làm chủ yếu), và phái siêu thoát (lấy tự do phóng túng, trào lộng u mặc, nghị luận dọc ngang làm yếu chỉ). Trong khi phái cẩn nguyện cúc cung tận tụy phó vua giúp nước, chăm chăm lấy sự "sát thân thành nhân", "lâm nguy bất cụ" làm lẽ sống, nhưng nhóm đồ đệ của Mặc Địch hay nhóm cân đai áo mão đồ đệ của Khổng Khâu, thì phái siêu thoát lại cười vang... cho bọn khép nép chầu chực ở sân rồng còn kém xa "loài heo tế", hoặc già như nhóm đồ đệ của Dương Chu, nhổ một sợi lông chân mà đổi lấy thiên hạ cũng không thèm, hoặc coi nhân nghĩa như giày dép rách, xem lễ là đầu mối của loạn ly trộm cướp...

Phái Nho gia có thuyết tôn quân nên bị nhà cầm quyền khai thác lợi dụng, nhân đó mà có bọn hủ nho xuất hiện, được nhóm vua chúa nâng đỡ đủ mọi phương tiện.

Nhưng, dù bị đàn hạc, bị bức bách đủ mọi hình thức, văn học u mặc chẳng nhưng không bị tiêu diệt lại còn càng ngày càng mạnh. Đúng như lời Lão Tử: "Tương dục phế chi, tất cố hưng chi". Cũng như văn trào lộng của nước Pháp ở thế kỷ mười tám sở dĩ được phát đạt một thời với những ngòi bút trào lộng bất hủ của Voltaire và Rousseau, phải chăng là "nhờ" nơi cái nhà ngục Bastille mà được vừa tế nhị, vừa rực rỡ! "Họa chung hữu phúc" là vậy!

Nguồn tư tưởng phóng khoáng của Đạo gia quá to rộng như đại dương, không sao đụng được trong những ao tù nhỏ hẹp, nó vượt khỏi thời gian không gian, ôm chầm vũ trụ, siêu thoát Âm Dương... không ai có thể lấy ngao mà lường biển. Cho nên tư tưởng Trung cổ về sau, dù đại thế của Nho gia được đề cao và chiếm địa vị độc tôn, cũng không làm sao ngăn trở nó được. Văn khí của u mặc hồn nhiên mạnh mẽ như giông to gió lớn, trước nó không một chướng ngại vật nào có thể đứng vững.

Huống chi người Trung Hoa trí thức nào cũng có hai tâm hồn: Bên ngoài là một ông Khổng, bên trong là một ông Lão. Nho Lão cùng ở trong một người mà không bao giờ nghịch nhau. Hạng trung lưu, không một người Đông phương nào, cả Trung Hoa, Nhật Bản hay Việt Nam mà đọc lên bài "Quy khứ lai từ" của Đào Uyên Minh lại không biết thích thú, nhất là hạng người say mê trong con đường nhập thế. Ngày có làm, thì đêm phải có nghĩ, đó là định luật của thiên nhiên: "Nhật hạp nhật tịch vị chi biến". Văn học u mặc là "mở", văn học cẩn nguyện là "đóng", nghĩa là khép kính trong vòng tiểu ngã, trong các giáo điều luân lý tôn giáo, nguồn gốc sinh ra không biết bao nhiêu việc nhỏ nhen ích kỷ và giả dối.

Văn học Trung Hoa, ngoài thứ văn học lăng miếu trong triều đình không kể, còn điều là thứ văn học rất đắc thế cho tư tưởng u mặc.

Văn học trong miếu, thực ra, chưa đáng kể là văn học, vì nền văn học có linh tính chân thật phải đi sâu vào tâm tư con người để khám phá và cởi mở những khác vọng thầm kính của nó mà ước lệ giả tạo của xã hội cấm đoán. Để hòa đồng với thiên nhiên phải tránh xa lối văn nhân tạo. Đó là đặc điểm đầu tiên của u mặc.

Ở Trung Hoa, nếu chỉ có nền văn học cẩn nguyện của Nho gia đạo thống mà thiếu nền văn học u mặc của Đạo gia, không biết văn học Trung Hoa sẽ cằn cõi khô khan đến bậc nào, tâm linh người Trung Hoa sẽ sầu khổ héo hắt đến chừng nào!

Nhận xét trên đây của nhà văn họ Lâm rất đúng, không riêng gì cho Trung Hoa mà cho tất cả mọi nền văn học trên khắp địa cầu. Nhà văn Chamfort có viết: "Triết lý hay nhất là hỗn hợp được sự vui đời mà trào lộng chua cay với sự khinh đời mà độ lượng khoan hòa"
<
BR>U mặc là ngọn t hanh phong trong những buổi trưa hè oi ả... của cuộc đời!

Khổng Tử đi hỏi lễ Lão Tử. Lão Tử nói: "Lời nói của ông là lời nói của những kẻ nay đã xương tàn cốt rụi. Vả, người quân tử đắc thời thì đi xe, không đắc thời thì tay vịn nón lá mà đi chân. Ta nghe rằng kẻ buôn giỏi khéo giữ của quý như không có gì, người quân tử đức thạnh, dung mạo như người ngu. Họ khác với cái kiêu khí và đa dục của ông. Thái sắc ấy và dâm chí ấy không ích lợi gì cho ông cả! Ta sở dĩ báo cho ông biết có bấy nhiêu thôi".

Đoạn văn trên đây của Tư Mã Thiên nói về Lão Tử và Khổng Tử, có cái ý vị trào lộng mà chua cay của người thời chiến quốc đối với hạng người thích làm thầy đời, chưa thể là văn u mặc thượng thừa. Phái siêu thoát, nếu lại nhập vào dòng yếm thế và phẫn thế, sẽ mất lần đi cái tinh thần chân chính của u mặc. Căn cứ vào tiêu chuẩn này, ta có thể nhận thấy rằng sách của Trang Tử gồm cả thảy ba mươi ba thiên, nhưng chỉ có nội thiên là toàn bích, phản ảnh đúng tinh thần u mặc thượng thừa của Trang Châu mà thôi. Các thiên chương khác, cũng có một số mà giọng trào lộng không kém Trang Châu, nhưng lại có giọng chua cay phẫn the (có thể do các tay Trang học, đạo theo lối văn u mặc của Trang), nên kém xa thần thái siêu thoát của Trang, như ở Thiên đạo chích chẳng hạn.

Khổng Tử lắm lúc cũng tỏ ra tinh thần u mặc: Sau một thời gian bôn ba thuyết khách, cốt đem đạo học truyền bá cho hàng đế vương mà không thấy ai biết dùng đạo mình, bèn than: "Dư dục vô ngôn. Thiên hà ngôn tai!". Rồi khi bị dồn vào thế kẹt, lại trào lộng tự bảo "tri kỳ bất khả nhi vi chi!!"

Bởi vậy, điều mà ta thích ở Khổng Tử, đâu phải lúc ông thiếu thời, sớm được thành công, đầy hăng say và tiểu khí ra tay giết Thiếu Chính Mão, mà chính ở vào lúc liên miên thất bại nhưng không mất vẻ trào lộng, thời mà ông không muốn chỉ "làm trái bầu treo lủng lẳng mà không ăn được!!". Vậy mà bọn hủ nho chỉ biết thích thú vỗ tay hoan nghênh cái ông Khổng Tử giết Thiếu Chính Mão, mà không biết thích cái ông Khổng Tử, vời cái cười trào lộng, khen cái chí của Tăng Điểm " Tắm sông Nghi, hứng gió ở nền Vũ Vu, trên đường về, cùng nhau nắm tay ca hát!" Nghĩa là họ chỉ biết thích cái ông Khổng bên ngoài của ông Khổng, mà không biết thích cái ông Lão ở bên trong của ông Khổng, cái ông Khổng "tòng ngô sở hiếu"!

Về sau Mạnh Tử cũng còn giữ được cái tính chất khôi hài khi ông " vượt bức tường đông để ôm chầm người con gái", điều mà bọn sĩ phu về sau không bao giờ dám hở môi.

Đến sau này, bọn hủ nho lại càng ngày lại càng kém, không đủ để bàn đến. Ngay như Hàn Phi Tử, tuy có tính cách trào lộng, nhưng lại thiếu sự nhẹ nhàng tự nhiên, nên cũng không sao theo kịp u mặc. Đến như bọn Đông Phương Sóc, Mai Cao đều chỉ là hạng người hoạt kê trào phúng, chưa có đủ bản sắc u mặc thượng thừa.

Mãi đến Vương Bật, Hà Án với tinh thần phóng khoáng của lão Trang, lại thêm có nhóm Trúc Lâm thất hiền tiếp tục khởi xướng, nên mới mở ra được cái phong thái thanh đàm, quét sạch được cái khí vị nặng nề móc meo của hủ nho thời ấy.

Trong cái không khí tự do đó, tư tưởng đời Chu Tần được cơ hội khai phóng, biến thành một phong trào hoạt đàm tự thích, như cây cỏ được cái nắng mùa hạ mà xum xuê, để rồi tiến sâu vào cảnh vật mùa thu. Kết quả là cuối đời Tấn, một nhà thơ trào lộng u mặc thành thục Đào Tiềm xuất hiện. Theo nhà văn họ Lâm, thì "cái vẻ đạm bạc tự thích của Đào Tiềm không giống cái vẻ cuồng phóng của Trang Châu, cũng không có cái bi phẫn của Khuất Nguyên"

So sánh bài " Quy Khứ Lai Từ" của Đào Tiềm với các bài "Bốc cư", "Ngư phụ" của Khuất Nguyên, tuy điều là những bài văn cao quý như hoa thơm cỏ lạ, nhưng văn họ Đào không có cái hồn âm kịch liệt và ai phẫn của Khuất Nguyên.

Họ Đào, như họ Trang, đều chủ trương về với tự nhiên, nhưng đối với thế tục, Đào không có cái bén nhọn như Trang. Đào không chịu " khom lưng, quỳ lụy vì năm đấu gạo" mà thương xót cho mình quá ngu dại vì miếng ăn đem đổi nhân phẩm của mình, còn Trang sinh thì lại cười vang cho bọn bon chen theo danh lợi không hơn gì bò lợn được dưỡng nuôi để mà xẻ thịt!

Nói thế, đâu phải chê Trang mà khen Đào, là vì, sự thật, có nhiều thứ u mặc: U mặc trong thi ca tự thích thì Đào là thủy tổ, mà u mặc trong văn nghị luận thì Trang là tối cao. Bản chất của thi ca là nhẹ nhàng thanh nhã, cho nên Đào rất ôn hòa là cái lẽ nó phải vậy. Họ Lâm cho rằng Trang Tử là thứ u mặc thuộc dương tính, còn Đào Tiềm là thứ u mặc thuộc âm tính: Khí chất khác nhau mà thôi.

Người Trung Hoa chưa nhận thức rõ ràng ý nghĩa sâu xa và vai trò quan trọng của u mặc nên cho rằng u mặc cũng đồng nghĩa với hoạt kê trào phúng, khiến nên u mặc bị kẹt trong một phạm vi hoạt động co hẹp.

Sau Trang Tử, văn chương u mặc có tính khí ngang tàng không thấy tiếp tục xuất hiện nữa. Là vì những tư tưởng phóng dật ấy bị thế lực đạo thống của Nho gia và quyền uy của vua chúa áp đảo. Trong khoảng hai ngàn năm người viết văn nghị luận đều phải theo đòi thánh hiền còn kẻ sĩ cầm bút cũng chỉ múa may trong vòng Khổng Miếu. Nếu có thứ văn nghị luận nào mới mẻ, kiến giải có hơi siêu phàm thoát tục liền bị coi là phản lại đạo đức, biện ngôn hay ngụy thuyết. Thậm chí bọn đại sĩ phu còn quy cho Hà Án, Vương Bật về tội xúi giục thối lan tràn của Kiệt Trụ, làm cho nhân nghĩ bị chìm đắm, nho phong mờ mệt, lễ nhạc băng hoại. Sở dĩ nước Trung Hoa điên đảo, họ cũng đều quy tội cho u mặc gây ra. Vương Lạc thanh đàm, vậy mà bọn hủ nho cho đó là triệu chứng diệt vong của nước tấn. Sự thanh đàm còn chẳng được chấp nhận, thì còn ai dám chủ trương nói đến chuyện " tuyệt thánh, khí chí", " tuyệt nhân, khí nghĩa!"

Các hủ nho có thể đem vứt bỏ văn học u mặc ra ngoài văn chương lăng miếu, mộ bia, nhưng không thể vứt nó ra khỏi cuộc sống của con người, vì u mặc là phần đặc biệt và quan trọng nhất của đời người. Dù là trong sinh hoạt của các nhà đại nho, dù học là những người sáng tạo ra văn học cần nguyện trang nghiêm đạo mạo bậc nào, trong những khi cùng bạn hữu đàm đạo, há chẳng có những lúc cười đùa châm chọc nhau sao? Chính những phút ấy là những giấy phút thần tiên, tâm hồn cởi mở và sống thật. Chỗ khác biệt giữa văn học cẩn nguyện và văn học u mặc là văn cẩn nguyện thiếu cái "ướt át" của u mặc mà thôi.

Trong nền văn học Việt Nam, mà thiếu văn chương lãng mạn u mặc của ca trù, thử hỏi còn có cái gì là tự do sinh khí nữa! Vậy mà bọn đạo đức giả nước ta không ngớt lên án là thứ văn chương du hí và vong quốc! Người ta đã kém thành thật đối với mình.

546





Cái Cười Của Thánh Nhân
Tác giả: Nguyễn Duy Cần

Cầu Cho Bạo Chúa Sống Lâu.


Có một lão bà ở Syracuse. Lúc bấy giờ vua Dennys trị dân tàn bạo một cách không thể nói.

Thiên hạ đều cầu khẩn cho vua chóng chết.

Thế mà lão bà sáng nào cũng vào giáo đường cầu nguyện cho bạo chúa sống lâu. Hơn nữa lại còn vái lạy thần linh, nếu có làm chết xin làm chết mình thay cho hôn quân.

Vua biết tin lấy làm lạ lùng quá, bèn vời lão vào hỏi cho rõ lý do. Lão bà nói:

- Tôi nay không có xuân xanh nữa! Trước đây, khi tôi còn trẻ, nước tôi đã phải gặp hôn quân vô đạo, thật là khổ sở vô cùng. Tôi cầu nguyện cho nước thoát khỏi hôn quân. Sau đó kẻ hành thích vua khác lên kế nghiệp. Ngờ đâu lại tàn bạo hơn vua trước. Tôi lại nghĩ, giả sử vua này chết đi, thì có lẽ nhân dân thoát khỏi lầm than. Hay đâu vua ấy qua đời, thì đến bệ hạ lên ngôi, thiên hạ lại lầm than nhiều hơn các đời vua trước nữa. Lấy đó mà suy, thì đời sau chắc hẳn vua lại còn tàn ác hơn đời này. Sở dĩ tôi cầu nguyện đem thân này thế cho nhà vua được trường thọ là để trì hoãn được cuộc thay đổi ấy ngày nào hay ngày đó!

Lời bàn:

Câu chuyện bắt đầu là đã có sự bất ngờ. Và từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, ta đi đến một bất ngờ vô cùng hài hước này: Trong khi ai ai cũng đều cầu mong cho bạo chúa chết đi, lại có một bà lão vái van cho bạo chúa sống lâu, và nếu cần, chết thế cho bạo chúa.

Nhất là câu giải thích cuối cùng của lão bà, thì quả là điều mà không ai tưởng tượng. Phải chăng đó là lời nói của một tâm hồn tuyệt vọng hay một tiếng cười nghịch ngợm chua chát, vô cùng can đảm, để mà đùa cợt với cuốc đời?

Sau hồi ngạc nhiên và thỏa mãn với câu "chửi" táo bạo vào mặt hôn quân, ta cảm thấy có một ý vị sâu sắc trong lời nói đầy kinh nghiệm và "khôn ngoan" của lão bà. Lúc bà còn trẻ tuổi, bà cũng tin rằng hễ giết được bạo chúa thì thay đổi được cuộc diện xã hội tức khắc. Nhưng, qua bao nhiêu lần thay đổi, bà lại thấy xã hội này càng điêu linh thống khổ hơn. Nay bà đã già rồi, với bao kinh nghiệm đã trải qua, bà không còn ảo vọng nữa.
570


Powered by Blogger.