1. Một thông báo treo tại cửa văn phòng tư vấn hoà giải: “Chúng tôi giải lao ăn trưa. Trong lúc chờ đợi, xin suy nghĩ lại!”.

2. Hỏi: “Sự khác nhau giữa hôn nhân và cái chết”? Đáp: “Sau khi chết người ta được tự do”.

3. Một nữ tu thắc mắc: “Nếu một người đàn bà kết hôn với Thượng đế, sau khi ly hôn bà ấy có được chia tài sản là một nửa vũ trụ?”.

4. Vợ tôi không thèm quan tâm tôi đã làm gì khi ra khỏi nhà, miễn là tôi đừng hứng thú gì…

5. Vợ tôi có 2 tính cách khác hẳn nhau: tôi chẳng thích cái nào.

6. Vợ tôi đã bỏ tôi để chạy theo thằng bạn thân của tôi, quái thật, tôi thấy nhớ gã ấy!

7. Toàn bộ ý kiến của tôi là của vợ tôi. Cô ta còn bảo là tôi may mắn đấy!

8. Hôn nhân là nguyên nhân chính của việc ly hôn.

9. Mất một người vợ là một điều đau khổ. Trong trường hợp của tôi, đó là điều không tưởng!

10. Nếu anh sợ cô đơn thì đừng kết hôn.

11. Tôi làm chủ toàn bộ cuộc đời tôi. Nhưng bí mật đấy, đừng nói vợ tôi biết!

12. Đàn ông độc thân: là người duy nhất chưa từng nói dối vợ.

13. Một người đàn ông ga lăng là người đàn ông không bao giờ văng tục với vợ trong khi những phụ nữ khác đang đứng xung quanh.

14. Đúng là con người sinh ra tự do và bình đẳng. Nhưng rồi một số người đi lấy vợ…

15. Hôn nhân là tình yêu. Tình yêu là mù quáng. Kết luận: Hôn nhân là mù quáng.

16. Phía sau thành công của người đàn bà là… một đống quần áo chưa giặt.
2616






Tôi ngồi trong tiệm ăn đợi đến 12 giờ rưỡi trưa thì thằng bạn thân mới tới. Chưa kịp ngồi xuống, hắn đã nói oang oang lên: "Trời ơi! Ông đi lâu quá! Không có ông tôi cứ phải ra đây ăn trưa một mình hoài!"

Tôi nói: "Uống martini phải không?"

Hắn cười: "Ông biết tôi hơn hai năm nay đến tiệm này cũng chỉ uống một thứ đó!" Rồi hắn tiếp: "Nói thật với ông nhé, ông thật là may mắn hơn tôi! Tôi ghét cái công việc chết dí ở cái bàn giấy lắm rồi! Tôi thèm được đi khắp nơi như ông quá!"

Tôi chắt lưỡi: "Mỗi chuyến đi chào hàng của tôi phải xa nhà cả hai, ba tuần thì có gì mà ông phải thích chứ!"

Hắn nhìn tôi ngạc nhiên: "Quen với ông gần ba năm nay rồi, sao bây giờ tôi mới nghe ông than như vậy! Hay là chuyến vừa rồi có gì...không được êm xuôi hả?"

Tôi lắc đầu: "Ngược lại là khác! Đơn đặt hàng nhiều hơn cả dự đoán!"

"Vậy thì có chuyện gì mà ông thẫn thờ quá vậy?" Hắn hỏi.

"Không phải chuyện công việc. Mà là vấn đề sức khoẽ."

"Ông nói giỡn chơi phải không?" Hắn như nhảy dựng lên, "Ông bự con như voi thế này thì bệnh cái nỗi gì!"

"Không! Tôi thì chưa có gì...Chỉ có điều vợ tôi..."

"Vợ ông bị sao?" Hắn hỏi dồn dập.

"Chuyện khá dài dòng. Chuyện bắt đầu từ cách đây khoãng ba tuần, tôi từ xa gọi về để hỏi thăm nàng. Thì nàng than mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, khó chịu trong mình...Tưởng chỉ là cảm cúm bình thường. Nào ngờ...đó là triệu chứng khởi đầu cho một căn bệnh hiểm nghèo..."

"Trời ơi! Bệnh gì vậy?"

"Đó là một căn bệnh từ một loại virus rất hiếm khi tấn công vào con người. Cơ hội để mắc bệnh này là mười triệu người mới có một người bị. Vì hiếm hoi như vậy nên người ta chưa đặt tên bệnh mà chỉ gọi nó bằng tên của loại virus thôi. Mà cái tên khoa học của con virus đó thì dài lòng thòng, tôi chẵng có cách nào nhớ nỗi. Hình như là..."

Bạn tôi cắt ngang: "Nhưng mà bệnh đó nguy hiểm cở nào?"

"Nếu không phát hiện kịp thời thì 'đứt bóng' dễ như chơi!"

" Ông nói 'đứt bóng'?" Hắn há hốc miệng, "Vậy trường hợp vợ ông là phát hiện sớm hay sao?"

"Nhờ trời, cả hai vợ chồng tôi đều được may mắn phát hiện kịp thời."

"Cả hai?" Hắn trợn mắt nhìn tôi, "Nghĩa là...ông cũng đã bị...lây nhiễm?"

"Đúng vậy!" Tôi nói nhỏ lại: "Qua đường...chăn gối!"

Hắn nhắp một hớp rượu rồi hỏi: "Nhưng nhờ đâu mà hai ông bà phát hiện được mình có bệnh đó?"

Tôi bật cười: "Tụi này đúng là gặp may! Tối thứ hai vừa rồi, một ông bạn bác sĩ của tôi ghé thăm khi tôi vừa đi xa về. Ông ta thấy vợ tôi không được khoẽ, liền hỏi thăm và đề nghị nàng đi thử máu. Rồi sau khi phát hiện nàng đã mắc bệnh, ông ta bắt tôi phải thử luôn. Và kết quả như tôi đã nói..."

"Hiện tại y khoa đã có thuốc chữa bệnh này chưa?"

"Vẫn còn đang trong vòng nghiên cứu. Mà ông có biết cả thành phố bảy triệu người dân của chúng ta, chỉ có một ông bác sĩ đang nghiên cứu về bệnh này không?"

"Đó là bác sĩ bạn của ông đó hả?"

"Không! Bạn tôi đã giới thiệu tôi đến bác sĩ chuyên khoa đó. Ông ta ở trên lầu ba trong tòa nhà Crystal gần đây này. Tụi tôi đã đến gặp ông ta và ông ấy nói là thuốc mới mà nhóm của ông đang nghiên cứu có khả năng rất cao trị dứt bệnh này. Nói thật với ông, tôi suýt bật khóc khi nghe tin vui đó."

"Trường hợp của gia đình ông cứ như là chuyện "Tái Ông mất ngựa" vậy!"

***********
Chúng tôi rời tiệm ăn lúc hai giờ. Chia tay bạn xong, tôi đón một chiếc taxi.

Mười phút sau, khi xe dừng lại trước tòa nhà Crystal, tôi đi thang máy lên lầu ba. Khi tôi bước ra khỏi thang máy, hành lang thật vắng ngắt. Giờ này ai cũng đang bận rộn với công việc của mình trong các văn phòng.

Lúc hai giờ ba mươi, cửa thang máy mở và...bạn tôi bước ra.

"Tao chỉ muốn biết chắc chắn đúng là mày!" Tôi nói. Rồi tôi tống một cú đấm trời giáng vào bản mặt của thằng khốn nạn.

2135




Bà vợ than phiền với bác sĩ:

- Chồng tôi hay đi suốt đêm. Tôi làm sao giữ được ông ấy ở nhà bây giờ?

- Hãy cho chồng bà uống viên thuốc ngủ này vào buổi chiều, đảm bảo ông ấy sẽ ngủ một mạch đến sáng hôm sau.

- Thế thì cũng mất vui. Ông ấy còn phải thực hiện nghĩa vụ với tôi chứ. Tôi chỉ cho ông ấy uống nửa viên có được không?
1335




Chồng bàn với vợ:
- Anh đặt lên bàn ba thứ để xem con mình sẽ lấy thứ gì. Nếu nó lấy tờ 100 USD, tương lai nó sẽ là nhà tài chính. Nếu lấy cây viết, nó sẽ là nhà văn, còn nếu cầm quyển kinh thì nó sẽ làm linh mục. Lát sau, cậu con vào phòng vớ cả ba thứ rồi chạy ra ngoài. Trong khi vợ còn đần mặt trước tình huống bất ngờ, chồng lẩm bẩm:
- Phương án thứ tư... Vợ sốt ruột hỏi:
- Là sao hở anh?
- Là ăn cướp chứ còn sao nữa!

2397




Những lần vào cuối năm, vào những ngày sửa soạn tống biệt năm cũ để chào đón năm mới, tôi lại thấy lòng nao-nao xúc động khi nhớ đến những cái tết ở quê nhà, những lần dạo phố trong những chợ hoa đông người, những bản nhạc vui nhộn về xuân từ những cửa tiệm 2 bên đường phố, những đống dưa hấu chất cao như núi với những lời mời đon đả, những vại hạt dưa, bánh mứt đủ màu sắc, những phong pháo đỏ ối treo lơ lửng trước cửa tiệm, những chai rượu, những hộp trà hảo hạng gói giấy bóng đỏ lấp lánh khi ánh nắng chiếu vào làm nổi bật không khí, sắc thái của những ngày tết đang đi về. Những đôi tình nhân đắm chìm trong cái hạnh phúc mùa xuân như cây cỏ cũng tươi mát say tình trong khí trời đổi mới. Bởi thế mỗi lần Tết sắp đến, dù là Tết Dương Lịch, hay Âm Lịch tôi vẫn cảm thấy bồi hồi, nhớ nhung về những gì đã mất, nhớ nhung về những tình cảm đầu đời man mác nào đó. Nhưng có một cái Tết nơi quê nhà, cái Tết mà tôi đã trải qua với đầy sợ hãi, hoảng hốt để cuối cùng lại thấy đó là một sự khôi hài mà không bao giờ quên được.

Khi đất nước đổi thay, đổi thay tất cả, cuộc sống trở nên xáo trộn, mọi người đều chới với, khi cánh cửa tự do đã khép lại đàng sau. Những ngày lễ lớn như lễ Giáng Sinh, lễ Phật Đản đều bị bác bỏ. cũng như đảo lộn cả vấn đề ăn tết, đón giao thừa... Nhà nước tuyên bố Lịch đã in sai ngày Tết Âm Lịch. Vì thế đã có nhiều nơi đón Ông Bà không cùng ngày, có nơi vừa làm lễ đón Ông Bà xong thì mới biết là đón Ông Bà về ăn Tết quá sớm. Có nơi lại đón Ông Bà về quá muộn, nên tôi cũng chẳng hiểu cái Tết năm đó Ông Bà có thông cảm cho con cháu về ngày giờ đưa đón lộn xộn, và có về được để cùng chung những ngày Tết bất hạnh với con cháu hay không?

Chúng tôi, tuổi trẻ của chúng tôi cũng mang chung số phận như nhau, đắm chìm, ẩn mình trong bóng tối như những con chim non nép dưới đôi cánh mẹ để sau đó từ từ bắt đầu nhón nhén bước ra với những bước chân chim dọ dẫm, ngập ngừng nhưng thận trọng. Vài năm sau ngày CS cưỡng chiếm miền Nam, tuổi trẻ chúng tôi đã thật sự vươn lên trong cuộc sống đe doạ, hồi hộp, u ám của thời cuộc. Những khói thuốc lại được thả những vòng tròn mờ đục lên cao bên những ly cafe đen đậm. Những tiếng nhạc êm dịu len lén vọng ra từ một góc phòng với những bàn ghế thô sơ, mộc mạc. Những quán cafe trữ tình cũng được mọc lên với những tiếng đàn dương cầm dìu dặt trong ánh sáng lung linh toả ra từ những cây nến được chủ quán lãng mạn thắp lên trên mỗi bàn. Rồi những bản nhạc ngày xưa được sống lại một cách thận trọng để rồi một vài ngày sau đó thấy quán bị niêm phong và chủ quán đã bị đưa đi đến một nơi nào đó trong hay ngoài thành phố mà không ai biết đến. Thế nhưng đâu đó vẫn còn những tiếng hát ngày xưa mà CS đã dùng danh từ "Nhạc Vàng" để đặt tên cho những nhạc phẩm tình cảm êm dịu. Các cán bộ trẻ tuổi như chúng tôi cũng đam mê loại nhạc này không kém.

Tuổi trẻ chúng tôi là đó, chúng tôi không còn sợ sệt như những năm tháng đầu khi có sự hiện diện của những người muốn thay đổi cuộc sống chúng tôi, thay đổi cái hạnh phúc, cái tự do mà chúng tôi đang có. Tuổi trẻ bắt đầu vui đùa, tổ chức các buổi dạ vũ nho- nhỏ, thu gọn trong đám bạn bè, tổ chức trong những ngôi nhà bị đánh tư sản mại bản hay trên một tầng lầu cao nhất của những building như Tổng Phát Hành Báo Chí Nam Cường chẳng hạn. Sau khi Ông Nam Cường bị bắt đi học tập "cải tạo" thì cái building của Ông cũng bị nhà nước tịch thu, trưng dụng. Sau một thời gian giằng co, khiếu nại, nhà nước đã chấp thuận cho thân nhân của Ông Nam Cường được ở vào những tầng lầu trên, còn tầng dưới thuộc sự cai quản của nhà nước, dùng làm cơ-sở. Các quý tử của Ông Nam Cường thuộc cái loại "[i]chơi bời, hư hỏng, truỵ lạc[/i]" theo lối chê bai của chính quyền CS. Mỗi lần tổ chức dạ vũ nho nhỏ, chúng tôi lại được nhỏ tai, thầm thì, hẹn giờ giấc để rồi sau đó tổ chức ngay trước mũi của nhà nước nhưng trên lầu 7 của building, tầng cao chót thật là an toàn và hấp dẫn. Chúng tôi trang trí khung cảnh như sống lại những khoảng khắc ngày xưa. Đứng trên cao có thể nhìn xuống thành phố nườm nượp xe dạp bên dưới và cũng có thể quan sát những gì có thể xảy ra ở tầng dưới. Khi tất cả bạn bè đã có mặt đông đủ, thang máy được khoá lại và nếu có bị động tĩnh chúng tôi chỉ cần tản mác vào các phòng trống trong các tầng khác mà không sợ bị khám phá, vì nếu Công An có leo lên đến lầu 7 thì e họ cũng chẳng còn sức để đi kiếm các thủ phạm "hư hỏng" như chúng tôi nữa. Thế là mọi người cứ việc vui đùa quay cuồng bên nhau để quên đi một thực tại quá nhiều đổi thay và cay đắng.

Những buổi vui chơi như vậy không bao giờ thiếu vắng vào những dịp lễ lớn. Tuổi trẻ của chúng tôi là thế, chúng tôi đã mất mát quá nhiều bởi chiến tranh. Bởi một cuộc chiến phi-lý giữa 2 miền Nam - Bắc... Tuổi trẻ của chúng tôi sống vội vã, không có sự thong thả, bình an học hành, chúng tôi bị dồn nén bởi vận nước ngả nghiêng, bởi sự thăng-trầm của những người đi làm lịch sử. Tuổi trẻ của chúng tôi là đấy, trong đó có Tôi và Chàng... chúng tôi gặp nhau vào một thời điểm tối đen tận cùng của đất nước. Chàng như một bại chiến trở về bơ phờ mệt mỏi. Ngày nào cũng thấy Chàng ngồi uống cafe với điếu thuốc trên tay, im lim ở một quán nhỏ nơi góc đường Lê Thánh Tôn nhìn người qua lại như một giải trí nhẹ nhàng. Tôi quen Chàng, tôi đến với Chàng trong một tâm hồn bị mất mát, trong một khoảng trống dày đặc như sương mù. Chúng tôi tìm đến nhau trong sự chán đời, yêu đời và cay đắng đời để rồi tôi được nhâm nhi nho nhỏ "[i]từ nay tôi đã có Chàng, có Anh ca hát bên đời líu lo...[/i]" hay chàng cũng sẽ "[i]từ nay tôi đã có nàng, có Em xoả tóc đang ngồi trước sân.[/i].." để cùng góp nhặt những nỗi buồn của nhau chất thành đống cao như gom những chiếc lá vàng mùa thu và sẽ bay tản mác trước những cơn gió thời cuộc. Chúng tôi bên nhau, bên những ly chanh đường tuy không còn ngọt lịm như môi Em. Chúng tôi bên nhau, bên những ly cafe đắng ngắt như cuộc đời hiện tại.

Hôm qua, vợ chồng dược sĩ Ái, Liên hỏi:

- Ê! quý vị có muốn đi nhảy đầm không? tụi này định tổ chức dạ vũ Tất Niên đó, chỗ này kín đáo và ngon lành lắm, không sợ bị bể đâu.

Chàng và Tôi nhìn nhau im lặng giây lát, chàng hỏi anh Ái :

- Ông tổ chức ở đâu vậy?

- Ở đường Trần Bình Trọng, gần đường Nguyễn Trãi. Cô bạn của Liên có nhà, gia đình cô ấy bị đánh tư sản mại bản bắt đi Kinh Tế Mới, nhà chỉ có 2 ch265




Bên trời sương mù đã tan hẳn.


Vầng thái dương ẩn hiện sau áng mây thua, chiếu ánh sáng huy hoàng trong khoảng không gian trong tạnh.

Từng cơn gió mát lạnh từ phương nam thổi về làm rơi những hạt nước trong suốt như pha lê còn đọng ở đầu cỏ lá cây.


Cảnh vật nơi vườn Ngự sau một trận mưa mai vừa tàn, càng đượm vẻ thanh tân tươi thắm.


Nơi thềm cao của một ngôi đền vàng, một nàng công chúa tuổi còn thơ bé, ngồi trên chiếc cẩm đôn, đưa mắt thẩn thờ nhìn ngắm cỏ hoa trong thượng uyển.


Bên này nơi hồ bán nguyệt những đóa hoa sen trắng, đỏ, tươi, đẹp mịn màng xen lẫn thấp cao trên mặt nước.


Ðàng kia, chung quanh hòn giả sơn, những thứ hoa quý lạ từ bốn phương gởi về, hương sắc thanh kỳ, phô vẻ nghìn hồng muôn tía, như mỉm cười duyên dáng trước ngọn gió mai.


Xa xa, mấy gốc thùy dương dịu dàng nghiêng mình soi bóng bên dòng suối nhỏ.


Khung cảnh tuy đẹp nhưng không gợi được niềm vui cho Công chúa, vì nó đã thường với mắt nàng lắm, rồi nàng mơ mộng vơ vẩn và ước mong một cái gì khác lạ hơn nữa... 


Nắng vàng nhẹ phủ lên hoàng cung.


Cảnh vật nơi vườn ngự tắm nắng triêu dương, rung động chập chờn trong làn gió sớm.


Công chúa đang thơ thẩn ngồi trông xa gần, bỗng đôi mắt nàng chăm chú vào một cảnh tượng. Từ trên mái ngói tráng men xanh, nước mưa còn đọng lại rơi xuống từng giọt đều đều, nối thành những bóng nước tròn, trôi lăn theo rãnh đá hoa trắng.


Dưới ánh chiêu dương, những bóng nước ấy lấp lánh, nổi nhiều màu sắc kỳ xảo, xinh đẹp lạ thường như những hạt ngọc tuyệt trần vô giá! Nét mặt công chúa sáng lên, nàng mỉm cười và thầm nghĩ: "Chà! những hạt ngọc kia sao mà đẹp thế! Ta đã có nhiều châu báu, nhưng chưa thấy thứ ngọc nào quý lạ bằng loại này.


Giá ta có một tràng chuỗi ngọc như thế để quàng nơi cổ thì thích biết bao!".


Nghĩ xong, như thâu thần, công chúa lại thừ người ra nhìn ngắm say sưa quên hẳn bao nhiêu vẻ   tươi thắm quanh mình, mặc cho ngọn gió nam cợt đùa cùng cảnh vật.


Giọt mưa đá dứt từ trên mái ngói.


Nơi lòng rãnh đá hoa, hình dáng những viên ngọc vô giá không còn nữa.


Ðâu đây, vài tiếng chim ríu rít điểm thưa thớt, đứt khoảng trong mấy tàn cây rậm.


Vầng thái dương lên đã hơi cao, ánh vàn xiên xiên rọi nữa thềm vàng, mà công chúa vẫn còn ngồi ngơ ngẩn, tâm hồn như phiêu dạt tận nơi nào! Một tên cung nữ từ phía trong đi ra, se sẽ đến gần, cung kính thưa: có lệnh mẫu hoàng gọi.


Như chợt bình tĩnh, công chúa không đáp, nặng nề bước thẳng vào phòng rồi lên giường nằm.


Cung nữ ngạc nhiên chạy vào phía trong.


Một lát, Hoàng hậu đến phòng con, thấy trên mặt ngây thơ có vẻ bơ phờ ủ dột, tưởng rằng đứa con yêu cảm nhiễm phong hàn, nên dịu dàng han hỏi.


Vốn là con một, hằng được nuông chiều, công chúa như có dịp để nhỏng nhẽo cùng mẹ.


Vì vậy tuy biết hoàng hậu đến thăm, nhưng nàng vẫn nằm xây mặt vào trong im lặng.


Hoàng hậu lại càng hốt hoảng kịp báo tin cho đức vua. Nghe tin con bất thường, đức vua vội vàng đến thăm hỏi, công chúa cũng vẫn im lặng không đáp. Sau khi vua và hoàng hậu dỗ dành, khuyên lơn mãi, nàng công chúa thơ ngây ấy mới thuật chuyện những viên ngọc quý và nói chỗ ước vọng của mình. Nghe xong, đứa vua cười vui vẻ và bảo: Ồ! Con ta khéo vớ vẩn thì thôi! Những hạt ngọc mà con nói đó, chỉ là những bóng nước, làm sao kết được tràng chuỗi? Nhưng thôi, con hãy yên lòng, các thứ ngọc quý giá ấy ở trong kho tàng không thiếu gì, cha sẽ cho con tùy ý lựa chọn. Nói đoạn, Vua sai quan giữ kho lựa những thứ ngọc thật đẹp đem đến cho công chúa. Nhưng sau khi xem xong từ thứ ngọc này đến thứ ngọc khác, công chúa vẫn không vừa ý, nhất định đòi cho được thứ hạt ngọc mà mình đã trông thấy.


Ước vọng không thành, lòng mơ tưởng những viên ngọc tuyệt đẹp làm cho công chúa âu sầu rã rượi, không còn biết đến bao nhiêu thức ngon, vật lạ.


Bệnh của công chúa mỗi ngày mỗi nặng. Ðức Vua và Hoàng hậu vô cùng lo lắng, vì vậy thấy sự tưởng nhớ có thể làm gầy mòn và cướp mất đứa con yêu của mình.


Một buổi chầu đức vua phán hỏi các quan làm thế nào cho công chúa hết bệnh? Tất cả triều thần đều nhìn nhau lặng thinh. Ngài lại hạ chiếu cho đòi những người thợ chuốt ngọc tài giỏi vào triều và hỏi có thứ ngọc nào như những bóng nước lấp lánh ngũ sắc để làm tràng chuỗi cho công chúa?


Tất cả thợ ngọc đều tâu không thể nào tìm được thứ ngọc như thế. Sau cùng, đức vua cho truyền rao khắp trong nước: Nếu người nào làm cho công chúa hết bệnh, sẽ được thưởng nghìn vàng.


Trong khi giờ khắc lặng lẽ trôi qua mà cứu tinh vẫn vắng bóng, vì lòng thương con, người cha hiền ngồi đứng không yên, muôn phần áo não. 


Một buổi sáng tinh sương, có người thợ chuốt ngọc tuổi già, râu tóc bạc phơ; xin vào ra mắt, sau khi bái yết xong người thợ già quỳ xuống tâu: "Muôn tâu Hoàng thượng! Bệnh của công chúa là một tâm bệnh, không thể dùng thuốc thang điều trị. 


Muốn cho hết bệnh lành, tất phải làm thỏa nguyện vọng của người ốm. Nhưng có điều khó: bóng nước không thể kết làm tràng chuỗi được.


Tuy nhiên, thần đã có phương chước làm cho công chúa hết bệnh. Như trút được gánh nặng, đức vua vô cùng mừng rỡ, liền đến phòng con âu yếm bảo: "Hôm nay có người thợ già hứa sẽ xỏ được xâu chuỗi ngọc ấy cho con. Thôi, con đừng buồn rầu nữa". Lời nói ấy quả có một hiệu lực phi thường: trên gương mặt xanh xao tiều tụy của người bệnh nở nụ cười và cơn trầm kha bỗng dưng như tiêu tan đi đâu mất.


Một dịp may, sáng hôm sau, trời vần vũ đổ mưa xuống. Khi trận mưa vừa tạnh, những bóng nước cũng trôi nơi lòng rãnh đá hoa như hôm nào.


Người thợ già tâu vua xin mời công chúa ra trước thềm điệu vàng và thưa: "Tôi tuổi già, đôi mắt đã mờ, không phân biệt được vẻ tốt xấu.


Xin công chúa tuỳ ý lựa hạt ngọc nào đẹp nhất, tôi sẽ xỏ cho". Nhưng bóng nước vẫn là chất mong manh, vừa chạm đến liền tan ngay, công chúa hết vớ bóng này đến bóng khác, kết cuộc đã mệt nhọc mà chẳng được chi cả.


Người thợ già hỏi: "Thế nào? Những hạt ngọc ấy ở đâu?". Công chúa ngẩng lên nhìn người thợ, rồi quay lại nhìn vua cha, đáp: "Xin phụ vương ban cho con tràng chuỗi bằng tử kim, vì thứ ấy rất chắc rơi xuống gạch đá không vỡ.


Còn những thứ này chỉ có dáng bên ngoài, nhưng lại giả dối mong manh, con không thể lấy được và không còn thấy ưa thích nữa".


Ðức vua dịu dàng bảo: Thì nó ch508




AD: Hôm qua ông bị má “dợt” sao mà la dữ vậy?

MR (mắc cỡ, chối phắt): Đâu có, thằng em tui đó chứ!

AD: Sao lạ vậy, tui nghe tiếng ông rõ ràng mà?

MR: Ờ thì... nó bị đánh đau quá la hổng nổi, tui la giùm.



o O o


Tổ trác

MR tán gái.

MR: Anh ước gì được như thằng em của em để suốt ngày được em nựng nịu.

AD: Thôi đi ông, mỗi ngày tui thay tã cho nó tám lần lận đấy!



o O o


Tuyệt!

AD: Cậu thấy tớ vẽ bức tranh này như thế nào?

MR: Xấu như ma?

AD: Tuyệt.

MR: Sao lại tuyệt.

AD: Vì tớ vẽ... ma mà!



o O o



Hèn gì

MR: Hôm qua dự sinh nhật nhỏ H, tui bị một trận sổ mũi quá trời!

AD: Hèn gì nhỏ H bảo với tui: “Thằng T lớp cậu là đứa... hỉ mũi chưa sạch!”.

1086




Hai sinh viên triết học năm thứ nhất đi qua khu giảng đường và nhìn thấy trên bảng tin hàng chữ: "Khóa học khai tâm về suy luận logic, khai giảng ngày 13/5. Học cả ngày". Cả hai đều không có khái niệm gì về môn học này nên rất tò mò. Họ đi tìm giáo sư bộ môn. Người bạo dạn hơn tiến vào văn phòng.

- Thưa giáo sư, "khóa học khai tâm về suy luận logic" có nghĩa là gì ạ?

Giáo sư đáp:

- Môn học này giúp người học, dựa trên những thông tin sẵn có, sử dụng tư duy logic để lập luận và đưa ra thông tin mới. Để dễ hiểu hơn, tôi sẽ trả lời câu hỏi của cậu bằng một câu hỏi. Cậu có xe hơi không?

- Có! - Cậu sinh viên đáp.

- Vậy là, tôi có thể suy luận một cách logic rằng cậu biết lái xe. - Giáo sư nói.

- Vâng! Đúng vậy!

- Tiếp đó, tôi có thể suy luận rằng cậu lái xe đi chơi vào kỳ nghỉ cuối tuần.

- Đúng, thứ bảy, chủ nhật hàng tuần em thường lái xe đến nơi hò hẹn.

- Qua đó, tôi suy ra rằng cậu có tình nhân. - Giáo sư tiếp.

- Vâng, em có một cô bạn gái.

Giáo sư kết luận:

- Cuối cùng, tôi có thể suy luận một cách logic rằng cậu là người có quan hệ tình dục khác giới.

- Vâng, đúng vậy! Giờ thì em đã hiểu nội dung của khóa học. Cảm ơn giáo sư!

Khi anh chàng trở ra, người bạn đợi bên ngoài hỏi:

- Thế nào, khóa học có gì hay không?

- Nó bàn về sử dụng thông tin và vài thứ linh tinh... Để tớ trả lời câu hỏi của cậu bằng một câu hỏi. Cậu có xe hơi không?

- Không! - Người bạn đáp.

- Vậy thì, tớ có thể suy luận một cách logic rằng cậu là một gã đồng tính luyến ái, đồ công tử bột ạ!

1154




   Prospéro , công tước Milan, là một vị quân vương lạ lùng. Cả đời, ngài vùi đầu sống giữa đống sách vở và các ống nghiệm, đắm hồn trong những cuộc nghiên cứu huyền bí, bỏ mặc việc triều chính cho người em trai là Antonio. Hậu quả thật tai hại. Gã Antonio đầy tham vọng, lợi dụng việc rời xa binh quyền và lòng tin cậy mù quáng của ngài để chiếm đoạt, trước tiên là mọi quyền lợi của công quốc, sau đó là lòng dân Milan. Tên gian tặc nghĩ mình mới thực sự là đấng quân vương, thu tóm mọi đặc quyền của Prospéro, là người vẫn cho rằng cái thư viện thênh thang là một công quốc vừa đủ cho nhà bác học. Vua xứ Naples, kẻ thù của Prospéro, tự xem mình là thượng quốc, hạ cố liên kết với Antonio. Cả hai âm mưu phế trừ Prospéro. Vào một đêm ghê rợn, lũ côn đồ theo lệnh Antonio xông vào Milan. Chúng bắt cóc Prospéro, vị công tước hợp pháp, cùng cô con gái ba tuổi Miranda, mang xuống thuyền, dông tuốt ra khơi. Gặp xác một con tàu đắm chỏng chơ giữa biển, đến loài chuột cũng chẳng thèm bén mảng đến, để tránh đổ máu, chúng quăng họ lên đó, bỏ mặc cho số phận đẩy đưa. Hồn nhiên, Miranda nhoẻn miệng cười, chính nụ cười đó giúp Prospéro có đủ nghị lực chống lại định mệnh khắc khe. Một công dân Naples tên là Gonzalo, mủi lòng trước cảnh hoạn nạn đó, dù lãnh nhiệm vụ thi hành mưu đồ độc ác, đã mang theo ít thực phẩm, nước uống, quần áo, chăn màn và số lớn sách vở mà Prospéro quí hơn cả công quốc của mình. Lênh đênh theo triều sóng, họ đến được một hòn đảo hoang vu, tưởng chừng như chưa có bóng người. Prospéro rời tàu, thực ra là mấy mảnh ván trôi giạt, dìu Miranda, ôm mớ hàng hóa quí hiếm lên bờ. Ngài sắp xếp chỗ ở trong một hang động thênh thang, chia ra làm nhiều ngăn. Nhà bác học kiêm pháp sư Prospéro nhận ra ngay trên đảo, có lai vãng những hồn ma Thiện và Ác. Bọn thủy thủ Alger đã vứt lên đấy mụ phù thủy hiểm ác Sycorax, hòng thoát khỏi sự trù yểm của mụ. Mụ ta có đứa con trai tên là Caliban, một con quái vật tóc hung gớm ghiếc, một tên súc sinh hung dữ, chỉ biết nói bập bẹ tiếng người. Để đảm bảo quyền cai quản hòn đảo cho con, trước khi chết, mụ ta đã nhốt trong các thân cây đại thụ các hồn ma đã không chịu tuân lệnh con mụ, Prospéro giải thoát cho họ và chiếm được lòng trung thành tuyệt đối của họ. Ariel hồn ma cầm đầu, nhất mực phục tùng ngài, luôn ngoan ngoãn làm điều thiện.

Mặt khác, Prospéro cũng nổ lực cải hóa tên Caliban gớm ghiếc, mong mang lại tính người cho hắn. Ngài đã dạy cho hắn nói, cho hắn uống nước và ăn quả ngọt, dạy cho hắn tên các vị tinh tú, -cái to sáng rực ban ngày và cái nhỏ lấp lánh trong đêm. Nhưng Caliban thừa hưởng của mẹ toàn bản năng xấu, hắn ta đã chẳng có lần hành hung cô bé Miranda đó sao? Bởi thế, hắn bị đày dưới hốc đá tối tăm và giáng xuống hàng nô lệ, phải gánh củi, đốt lửa, và luôn bị Ariel canh chừng. Gã này vô hình trước mắt mọi người, trừ ngài Prospéro. Cái hồn ma tinh nghịch ấy, nhớ lại cách cư xử tàn tệ khi xưa của mụ Sycorax đối với mình, đã tỏ ra khắc khe trong nhiệm vụ, gã kiềm kẹp Caliban, xô hắn ngã huỳnh huỵch trong các vũng nước, đôi khi biến thành khỉ, từ nhành cây cao, nhăn bộ mặt kinh dị với hắn, hay hóa ra con nhím, lăn tròn dưới chân hắn và tên đần độn, vụng về cất chân lên, để khỏi bị nhím đâm.

Trong lúc đó, thời gian vùn vụt trôi qua. Miranda lớn lên, càng thêm xinh đẹp và duyên dáng. Đến năm mười lăm tuổi, nàng chưa hề biết một người nào khác ngoài cha nàng, nên bao tâm tưởng, nàng đều gởi trọn cho cha. Hơn nữa, nhờ môn khoa học huyền bí đã trở nên điêu luyện sau mười hai năm ẩn dật và nghiền ngẫm, ngài có thể đọc mọi ý nghĩ giấu kín trong đầu con gái như trên trang sách. Ngài xét thấy thời gian đã chín muồi để có thể sử dụng sở trường khoa học của mình mà làm chủ mọi biến cố.

Ông em Antonio, thay ngài làm công tước Milan tháp tùng đức vua Naples và hoàng tử Ferdinand, đang lênh đênh trên biển với đám thuộc hạ. Họ vừa mang công chúa Claribelle sang châu Phi và đang trên đường về Italia, sau khi dự hôn lễ của nàng với vua Tunis. Chính lúc đó, họ lâm vào một trận đồ bát quái của Prospéro. Theo lệnh ngài, Ariel gây ra cơn bão lạ lùng, chưa bao giờ xảy ra trên Địa Trung Hải. Gió thổi khi thì trước mũi, khi thì sau lái, ma trơi chập chờn tứ phía, đỉnh cột buồm gãy ngang rồi trụ buồm, cột buồm cái thi nhau vặn mình răng rắc và đổ ập xuống. Giữa cảnh náo loạn, khi lưu hoàng theo sóng biển tràn lên, cả đoàn người đi tàu như lên cơn điên vì sợ hãi. Viên thuyền trưởng hoài công giữ chặt tay lái, họ nhảy bừa xuống biển đang ầm ầm cuộn sóng.

Chúng ta đắm tàu mất! -họ hét lên. Giờ này, ta xin đổi ngàn dặm biển để lấy một mảnh đất khô cằn, một bờ thạch thảo hay một bụi kim-tước chi gai góc. Chết trên khô vẫn sướng hơn! Hoàng tử Ferdinand kinh hoàng nhảy khỏi tàu, thốt lên:

- Tất cả yêu tinh quỷ quái đều tề tựu về đây, chắc địa ngục vắng không!

đức vua Naples, cha chàng, ngỡ chàng bị sóng cuốn mất.

Nhưng Ariel đã cẩn thận chọn nơi đắm tàu thật gần bờ. Vẫn theo lệnh Prospéro, gã phân tán nạn nhân ra từng nhóm, cho họ trôi dạt vào nhiều điểm khác nhau trên đảo, rồi về báo cáo với chủ:

- Chả thiếu mặt ai trong đoàn người trên tàu cả, dù rằng ai cũng ngỡ rằng mình là người duy nhất sống sót: họ mệt nhoài nên ngủ cả, bùa mê của ta sẽ khiến họ còn ngủ lâu: con tàu đỗ an toàn dưới bến, dù chẳng ai thấy được nó. Công tước và vua Naples đều đang tìm hoàng tử Ferdinand, nhưng chẳng mong gì gặp lại. Phần chàng vẫn bình an vô sự, khoanh tay trước ngực, khóc than cho cái chết của phụ vương mà chàng ngỡ đã chìm sâu dưới đáy biển. Chàng chẳng bị thương tích gì, quần áo tuy hơi ướt đẫm nước biển, lại thấy mát mẻ hơn bao giờ. Đoàn tàu còn lại, tiếp tục cuộc hành trình, buồn bã giương buồm về Naples, tất cả đều quả quyết, đã trông thấy tàu nhà vua chìm lỉm và đức vua đã băng hà.

Ariel nhận lệnh mới, lại hóa ra nữ thần hải dương, ra biển hát một ca khúc của mỹ nhân ngư: Hãy chạy lên bãi cát vàng

Nẵm chặt tay nhau

Nếu các ngươi đã gặp và hôn phải làn sóng dữ

Cứ tưng bừng nhảy múa đó đây

Hãy đến đây, những tâm hồn kỳ diệu, cùng cất tiếng hát với ta.

Bài ca đánh thức hoàng tử Ferdinand, đang còn thiếp ngủ vì mệt.

Ariel hát tiếp:

Dưới năm sải nước, cha ngươi vừa gục ngã

Xương ngài sẽ biến thành san hô

Mắt ngài sẽ là hai viên ngọc

Chẳng có gì của ngài mất đi

Nhưng đại dương sẽ biến tất cả thành những vật hiếm hoi và quí báu

Các nữ thủy thần sẽ từng giờ đổ chuông gọi hồn Ngài

Kia! Hãy chăm chú lắng nghe: Đinh, đong, đinh, đong!

Choàng dậy, Ferdinand cảm thấy nỗi khổ đau cơ hồ nguôi dần. Chàng bước lần theo tiếng hát đang bay xa. Tiếng hát đưa chàng đến một lùm cây rậm rạp: dưới bóng mát, Prospéro và Miranda đang ngồi. Miranda ngước mắt lên:

- Con nhìn gì đấy? –cha nàng hỏi

- Chắc hẳn đó là một con ma, -cô gái khẽ đáp- Nó nhìn quanh quất. Nó đẹp quá, chỉ có thể là một con ma thôi.

- Không đâu, con ạ! Đó là một con người, cũng ăn, ngủ và sống như chúng ta. Đó là một chàng trai trẻ, trên chiếc tàu vừa bị đắm. Chàng lạc mất cả bạn đồng hành và đang tìm kiếm họ khắp nơi.

Miranda vẫn tưởng rằng: mọi con người đều phải có bộ mặt trịnh trọng và chòm râu dài như Prospéro. Yên lòng và thích thú, nàng tiến lại gần. Hoàng tử Ferdinand, vẫn còn mê mẫn bởi tiếng hát Ariel, chợt ngất ngây trước tấm nhan sắc kỳ diệu, ngỡ mình đã lọt vào hòn đảo thần tiên. Miranda không thể là người trần. Nên chàng rụt rè hỏi: phải chăng nàng là thần nữ chốn này?

- Tôi chỉ là một cô gái bình thường –Miranda bẽn lẽn đáp. Nàng sắp sửa kể lại chuện đời mình, bởi nàng đâu đã biết đến tính đa nghi và lòng ngờ vực. Nhưng Prospéro kịp ngăn lại, ngài thấy rõ hai trẻ ngây thơ đã yêu nhau, ngay phút đầu gặp gỡ, -như người đời vẫn nói. Để thử thách Ferdinand, ngài vờ nghi chàng dối trá và đối xử hết sức khắt khe. Phải chăng chàng đến đây là để chiếm đảo của Ngài.

- Hãy theo ta –ngài cất giọng nghiêm khắc- Ta sẽ giam ngươi lại và trói chặt tay chân, ngươi sẽ phải uống nước biển, ăn vỏ sò, rễ khô và dẻ rừng.

- Ta chẳng cần làm gì cả! –Ferdinand hiên ngang cự lại, tay đặt vào chuôi kiếm. Nhưng Prospéro chỉ cần vung đũa thần lên, là hoàng tử đã bị trói chặt. Miranda thấy động lòng trắc ẩn.

- Thưa phụ thân, hãy thương xót chàng. Con xin đảm bảo cho chàng đấy! Chàng là người thứ hai mà con được thấy, nhưng con tin chàng ngay thẳng và chân thực.

- Sao? -Cha nàng hầm hừ- Con thấy hắn đẹp à, vì con chỉ biết có mỗi mình hắn và Caliban. Nhưng cha nói cho con rõ, này cô bé khờ khạo của cha, sánh với bao kẻ khác, hắn cũng chỉ là một tên Caliban thôi.

- Chắc là con quá khiêm tốn trong tình yêu, –cô gái nhỏ nhẹ nói- bởi lẽ con chẳng mong ước người nào khác quyến rũ hơn.

- Ngươi không có quyền cãi lệnh ta, nào theo ta ngay! –Prospéro quát lên, và vị hoàng tử sững sờ riu ríu bước theo.

- Linh hồn ta bị ràng buộc, -hoàng tử thầm thì- Nhưng cái chết của cha ta, sự yếu đuối và mệt mỏi của ta, tai nạn đắm tàu của lũ bạn, sự đe dọa của lão chủ, tất cả đều vô nghĩa, nếu mỗi ngày từ ngục tối ta được trông thấy nàng một lần, sá gì cái tự do nơi khác?

Prospéro quan sát rồi mỉm cười, vì bão tố, đắm tàu gặp gỡ buổi đầu, tình yêu chớm nở, tất cả đều là công trình trí tuệ của ngài. Ngài truyền dạy tên tù phải chất hàng đống củi cho thật nhanh. Ferdinand hầu như bị kiệt sức bởi công việc nặng nhọc đó; Miranda, ràn rụa nước mắt, cảm thương:

- Than ôi! –nàng khóc thút thít- đừng làm nhiều thế. Cha em đang vùi đầu trong sách vở, ít ra cũng đến ba tiếng. Anh hãy nghỉ đi! Em sẽ ôm củi thay anh một lát.

Ferdinand hốt hoảng ngăn lại, sau đó, quên mọi lời căn dặn của Prospéro, cả hai âu yếm chuyện trò. Nhà thông thái vô hình, thích thú chứng kiến từ đầu chí cuối. Miranda quên bẵng nghiêm lệnh của cha, thổ lộ tên mình và trả lời mọi câu hỏi của Ferdinand. Nàng say sưa lắng nghe những lời ngợi ca sắc đẹp của nàng. Gã trai trẻ si tình bảo rằng: nàng là người đàn bà đẹp nhất trần gian.

- Em chẳng còn nhớ nổi gương mặt một người phụ nữ nào, -Miranda từ tốn nói- em cũng chưa bao giờ trông thấy người đàn ông nào khác, ngoài chàng và phụ thân em. Nhưng cứ tin em đi, em không sao hình dung nổi nét mặt nào khác, có thể khiến lòng em xao động, cũng chẳng mong người bạn nào khác ngoài chàng.

Cảm kích trước tấm lòng chân thực của Mirand, Ferdinand cũng kể chuyện đời mình, cho biết chàng là thái tử Naples. Nàng có muốn làm hoàng hậu và có hứa sẽ thành hôn với chàng không? Cô bé tội nghiệp, rưng rưng nước mắt mừng vui, chưa kịp trả lời thì Prospéro đã hiện ra và ban phúc cho đôi lứa. Ngài chỉ giả vờ nghiêm khắc thôi, Ferdinand đã hiên ngang và dũng cảm vượt qua mọi thử thách. Cầu mong chúng được hạnh phúc với nhau. Phần ngài, công trình vẫn còn dang dở.

Lúc đó, vài hành khách đắm tàu đã gặp lại nhau ở ven bờ. Họ ngạc nhiên chẳng biết vì sao quần áo thấm nước biển, đến lúc khô, vẫn giữ được vẻ tươi mát và lộng lẫy. Chưa chi họ đã cãi vã nhau ỏm tỏi, người thì bảo khí hậu nơi đây dịu mát và không khí thoảng mùi hương; kẻ lại phàn nàn có mùi bùn lầy, nhớp nhúa. Có người bảo trông thấy hoàng tử Ferdinand lội vào bờ, nhưng vua Naples không tin, cứ tức tưởi khóc con. Ông em Sébastien phiền trách ngài về đường lối chính trị nói chung và chuyến đi này nói riêng. Lão Gonzalo, với con tim hiền dịu và khối óc hão huyền, mười hai năm trước đây đã cứu mạng Prospéro, tuyên bố sẽ ban hành hiến pháp trên hòn đảo man dại và hoang vắng này:

- Trong nước cộng hòa của tôi –ông trầm tư- tôi sẽ làm ngược lại những điều nơi khác làm. Tôi hủy bỏ mậu dịch. Chẳng có tổ chức hành chánh, trường học, không nô lệ, không giàu sang, không nghèo khó, chẳng giao kèo, của cải hay di sản gì cả. Dứt bỏ mọi ưu tư, thần dân của tôi sẽ không biết công dụng của sắt thép hay thóc lúa, dầu hay rượu; các nguồn lợi thiên nhiên sẽ thuộc về mọi người, chẳng mảy may khổ nhọc. Sự bội phản, lừa đảo, gươm giáo, dao găm, súng hỏa mai, nhục hình sẽ bị hủy diệt tất. Được thiên nhiên cung ứng mọi thứ, đám dân làng của tôi sẽ sống trong một thời đại hoàng kim.

Bọn họ cười chế giễu ông ta rồi tất cả chìm vào giấc ngủ, ngẩn ngơ bởi tiếng nhạc của Ariel vô hình. Khi thức dậy, bọn họ túa ra khắp đảo, cố gắng tìm dấu vết Ferdinand. Các cụ già chẳng mấy chốc đã mệt rũ, bởi Ariel luôn tìm cách bỡn cợt họ. Họ lạc lối trong mê cung, nghe như có tiếng gầm rú của sư tử, thế là họ tuốt kiếm đâm loạn xạ vào khoảng không. Họ thấy từ đâu thoắt hiện một bàn tiệc linh đình, do những người quái dị như con rối chiêu đãi, nhưng đúng vào lúc họ sắp sửa ngồi vào bàn, thì một nữ ác thần hiện ra. Vẫn chính là Ariel, chê trách họ yếu đuối và bất lực, nhắc họ nhớ đến tội ác, mà giờ đây họ phải chịu quả báo; chẳng phải họ đã đày ải Prospéro và cô con gái nhỏ vào cơn cuồng nộ của biển cả như vừa qua chính họ phải chịu đựng hay sao?

- Dù đi tới đâu, sự hủy diệt vẫn âm ỉ bám riết các người. Chỉ còn dành cho các người chút hy vọng mong manh trong niềm sám hối và một cuộc sống nhơ bẩn.

Nữ ác thần biến mất trong khoảng không. Những kẻ có tội bàng hoàng, kinh khiếp, chạy tán loạn. Prospéro thầm nhủ:

- Linh phù đang ra oai. Tất cả bọn họ đều nằm dưới quyền lực của ta.

Đoàn người trên tàu bị đưa đẩy đến một bến bờ khác, nơi tên Caliban ghớm ghiếc đang đốn củi, vừa hậm hực chửi bới và nguyền rủa chủ nhân mình. Vì Prospéro, tuy dạy tên súc sinh nói được, nhưng hắn chỉ biết nói toàn những lời mắng nhiếc và trù ẻo.

Một thủy thủ, gã Trinculo, thấy hắn trước tiên, nhạo báng hắn, chê hắn hôi mùi cá và chắc người ta sẽ vớ bở nếu mang hắn triển lãm ở hội chợ. Stéphano, một thủy thủ khác, cho rằng hắn đội lốt rừng rú để làm họ hoảng vía chơi. Họ thuần dưỡng hắn rất nhanh, vì lúc đắm tàu họ cứu thoát được một thùng rượu vang Cérès, giờ đây, họ trút cả chai vào miệng Caliban, vừa thích thú bảo cho Caliban biết rằng theo họ, đó là thứ tuyệt nhất trần gian.

- Mấy người này đẹp đẽ quá! –Caliban làu bàu- Rượu của họ tuyệt diệu. Có phải họ từ trên trời rơi xuống không?

Rồi do cứ vòi mãi chai rượu thần, đầu óc khốn khổ của hắn ta bỗng chốc quay cuồng. Hắn quị xuống trước trước mặt các chủ nhân thứ nước uống kỳ diệu và trở thành nô lệ của họ:

- Ôi con người kỳ diệu! Tôi sẽ chỉ cho ngài dòng suối mát trong, tôi sẽ hái quả ngọt, sẽ câu cá cho ngài. Để tôi đưa ngài đến nơi có những quả táo hoang, tôi sẽ dùng móng tay nắm lên, tôi sẽ chỉ ngài tổ chim cà cưỡng và cách bẫy sóc ra sao.

Rồi Caliban say khướt, lôi hai người bạn mới, vừa đi ngất ngưỡng, vừa ngêu ngao: Tớ chẳng thèm làm lờ bắt cá

Tớ chẳng thèm gom củi đốt lửa

Tớ chẳng thèm cọ rửa chén bát Tớ chẳng thèm lau dĩa nữa

Ban! Ban! Caliban!

Tự do! Thịnh vượng! Tự do! Tự do!

Tên cục súc không thấy rằng, khi ngỡ đã thoát khỏi cái ách nhân hậu của Prospéro, hắn lại dâng mình cho vị chủ mới bạo ngược, đần độn và dốt nát. Hai gã thủy thủ hỏi dò Caliban: - Nếu trên đảo chỉ có Prospéro và con gái, thì cả ba chúng ta có thể dễ dàng khống chế được ngay.

Caliban thấy như mình đã vượt khỏi quyền lực của Prospéro, kẻ chiếm đoạt gia sản của hắn, cái hòn đảo do Sycorax, mẹ hắn để lại.

- Khi nào lão ta ngủ, tôi sẽ bắt nộp các ngài –tên độc ác hí hởn nói- các ngài có thể đóng đinh vào đầu, hay đập vỡ sọ bằng gậy, mổ bụng bằng cọc nhọn, hay cắt cổ với dao bản. Không còn sách vở, lão cũng chỉ là thằng ngốc như tôi thôi, và lão sẽ chẳng còn điều khiển được âm binh nữa.

Caliban cũng quả quyết với Stéphano rằng hắn sẽ cưới nàng Miranda xinh đẹp, và sẽ làm chúa đảo. Ba gã say rượu hát vang:

Chế nhạo chúng! Canh giữ chúng!

Tư tưởng luôn tự do!

Nhưng một giọng nói từ trên không lặp lại điệp khúc đó, chính Ariel vừa khua chiếc trống con. Ba gã say, tâm hồn mê mẫn, mù quáng bước theo tiếng nhạc, băng qua bụi ngấy nhọn, khóm kim-tước chi gai góc và lùm kim-tước hoa sắc bén, họ rơi tõm xuống một cái ao bùn dơ đặc sệt, ngập tận cằm.

Hài lòng trước hạnh phúc của hai trẻ, Prospéro tặng họ một tiết mục nhạc hào hứng Cérès, Junon và iris (1) cùng đến ca hát chúc mừng họ.

Ferdinand ca ngợi đảo là một thiên đàng. Prospéro giải thích cho chàng biết cả buổi trình diễn ngoạn mục kia là do các hồn ma dựng nên, và những ảo ảnh êm đềm ấy rồi sẽ tan biến đi, không để lại dấu vết:

- Chúng ta được tạo ra cùng một thứ với chiêm bao, và cuộc sống phù du của chúng ta khác nào một giấc mơ.

Qua tin tức Ariel mang về, Prospéro thấy khó mà tìm ra một điểm tốt nào nơi Caliban, đó là một quái vật mà sự giáo dục đã tỏ ra vô hiệu. Các hồn ma biến thành chó săn. Ariel buông dây, thế là Caliban bỏ chạy, Stéphano chạy vắt giò lên cổ. Trinculo phi như ngựa, bị bầy quỉ rượt theo.

Từ nay, Prospéro là chủ đảo, không còn chối cãi vào đâu được, và giây phút chiến thắng cũng đã gần kề. Ariel giam giữ đức vua, công tước và đám tùy tùng trong khu vườn chanh huyền bí, khiến họ không thể nào thoát ra được, và tuyệt vọng, họ òa lên khóc.

- Nếu thấy họ, ngài hẳn sẽ rũ lòng thương hại, gã nói với Prospéro.

- Ngươi tin thế à?

- Nếu tôi là người, tôi sẽ tội nghiệp cho họ lắm.

- Ta cũng xót thương cho họ như vậy –nhà bác học Prospéro ôn tồn đáp- Lòng khoan dung bao giờ cũng cao cả hơn sự báo thù. Bởi họ đã khóc than và hối hận, ta đã đạt được mục đích. Hãy trả tự do cho họ, Ariel! Ta thu hồi bùa phép. Hãy để họ hoàn hồn lại.

Prospéro, còn lại một mình, chào giã biệt hòn đảo và từ bỏ mọi ma thuật:

- Thiên tinh của các giòng suối, của những ngọn đồi, của những ao hồ yên tĩnh và lùm cây xanh tươi! Bước chân thoáng nhẹ của các người không in vết trên cát, các ngươi hãy theo thần Neptune(2) khi ngài rút xuống và bỏ chạy khi ngài tràn lên, và các ngươi, bọn quỷ yêu, vẽ trên cỏ từng vòng tròn huyền diệu; dưới trăng khuya, các ngươi tiêu khiển bằng cách nửa đêm cho nấm dưới đất mọc lên, để các tiên nữ ngồi lên mà quây quần tụ hội. Các ngươi thức dậy trong giờ giới nghiêm. Các ngươi đã giúp ta làm mặt trời tối lại giữa trưa, nổi phong ba và dâng trào sóng bể, khiến sấm sét vang rền và nhổ bật rễ nào thông, nào bách hương, các ngươi hãy chứng giám cho ta! Ta nguyện từ bỏ yêu pháp. Theo tiếng nhạc lả lướt của các ngươi, ta bẻ gẫy chiếc đũa thần. Ta chôn vùi nó dưới đất đen, và ta sẽ dìm tất cả sách vở xuống tận đáy biển sâu! Tất cả những nạn nhân đắm tàu đều tụ hội đông đủ, theo sự hướng dẫn của Ariel. Prospéro cởi chiếc áo dài phù thủy ra, mặc áo ngắn vào, đội mũ lên, đeo gươm lại “như thuở nào ở Milan”, Ariel vừa giúp ngài vừa rầm rĩ bài hát:

Ong hút mật nơi nào, ta hút nơi ấy

Ta ngủ giữa lòng cây anh thảo

Ta ẩn náu khi chim cú cất tiếng kêu ai oán

Ta cởi trên lưng dơi

Mùa hè trôi qua vui vẻ

Vui thay, vui thay, từ đây ta sống giữa đóa hoa đong đưa dưới cuống

Sững sờ, họ ngại ngùgn chưa nhận ta Prospéro. Lão Gonzalo tốt bụng, là người đầu tiên trấn tĩnh, há chẳng phải nhờ lão mà Prospéro được bảo toàn tính mạng đó sao? Công tước Antonio và đức vua Naples ăn năn hối lỗi, tha thiết thỉnh cầu được dung thứ, ngài Prospéro quảng đại bèn hoan hỉ chấp nhận ngay. Đoạn ngài mở hé vách ngăn hang động, mọi người trông thấy đôi trai gái Ferdinand và Miranda đang bình thản chơi cờ.

Hãy hình dung niềm vui của hai cha con khi gặp lại nhau. Phần Miranda, nàng bàng hoàng trước một thế giới chưa hề quen biết, có những con người cũng đẹp đẽ như kẻ vừa đến với nàng. Đức vua Naples không quên tấm tắc khen nàng là một nhân vật siêu phàm, còn Ferdinand kiêu hãnh và vui sướng, trình diện với phụ vương người vợ tương lai, ái nữ của nhà bác học Prospéro.

- Ôi chẳng có nguồn vui nào sánh nổi –lão Gonzalo la to- Chúng ta đều gặp lại nhau cả, trong khi tất cả chúng ta ngỡ đã cùng đường, nghẽn lối.

Chỉ có hai gã thủy thủ say rượu và tên cục súc Caliban là không mấy vui. Hắn sợ bị trừng phạt, hứa sẽ triệt để phục tùng, nên được ân xá.

Ariel đánh thức toàn bộ thủy thủ đoàn, sửa sang và trang bị lại con tàu bằng phép lạ, để sẵn sàng đưa mọi người về Naples, nơi sẽ tổ chức hôn lễ thật huy hoàng. Prospéro đảm bảo chuyến đi sẽ nhanh chóng, thuận buồm xuôi gió trên mặt biển yên tĩnh. Ngài giải thoát cho Ariel, để linh hồn gã được phiêu diêu nơi miền cực lạc.

- Từ đây –Prospéro nói- gỡ bỏ hết bùa linh, ta cũng trở nên yếu đuối như tất cả mọi người. Chú thích

1) Cérès: nông thần

Junon: nữ thần, Jupiter

Iris, được xem như là sứ giả của các vị thần, có nhiệm vụ đưa các linh hồn xuống hỏa ngục, chiếc khăn choàng bảy màu của nàng trùng hợp với bảy sắc cầu vồng

2) Neptune: hải thần
2903




  Căn phòng ấm áp và sạch sẽ, màn cửa kéo kín, hai chiếc đèn bàn đang tỏa sáng- một cho cô và một cho chiếc ghế trống đối diện. Trên tủ búp-phê sau lưng cô là hai chiếc ly cao, nước xô-đa, whiskey. Những viên nước đá tinh khiết bỏ vào trong bình Thermos. Mary Maloney đang chờ chồng cô đi làm về.

Thỉnh thoảng cô lại liếc nhìn đồng hồ, nhưng không hề lo lắng mà chỉ để làm vui mình bằng ý nghĩ mỗi phút trôi qua làm thời gian anh về gần hơn. Chung quanh cô và mỗi hành động của cô là một bầu không khí vui vẻ thầm lặng. Đường nét mái đầu cô khi cúi xuống may mang một vẻ bình yên khó tả. Làn da cô- cô đang có thai đến tháng thứ sáu- có vẻ như trong suốt tuyệt đẹp, miệng cô mềm mại và đôi mắt, với cái nhìn điềm tĩnh, hình như to hơn và sẫm màu hơn so với trước đây. Khi đồng hồ chỉ năm giờ kém mười, cô bắt đầu lắng nghe và vài phút sau, luôn luôn chính xác như vậy, cô nghe thấy tiếng bánh xe lăn trên đá sỏi bên ngoài và tiếng cửa xe đóng sầm lại, tiếng bước chân ngang qua cửa sổ, tiếng chìa khóa xoay trong ổ khóa. Cô đặt đồ may xuống, đứng lên và đến hôn chồng khi anh bước vào.

“Chào anh yêu.” Cô nói.

“Chào em yêu.” Anh trả lời.

Cô đỡ lấy áo khoác của anh đem treo vào tủ. Rồi cô đi pha rượu, một ly mạnh hơn cho anh, một ly rượu nhẹ cho mình, chỉ vài phút sau cô đã ngồi lại trên ghế tiếp tục may, và anh ngồi đối diện, cầm ly bằng cả hai tay, vừa uống vừa lắc làm nước đá va vào thành ly kêu lanh canh. Với cô, đây luôn luôn là giờ phút hạnh phúc trong ngày. Cô biết anh không muốn nói nhiều cho đến khi uống hết ly thứ nhất, còn cô cũng hài lòng được ngồi yên lặng, vui thích vì có anh bên cạnh sau những giờ dài ở nhà một mình. Cô thích cảm nhận sự có mặt của anh và cảm thấy _ giống như một người tắm nắng cảm thấy ánh nắng_hơi ấm nam tính tỏa ra từ anh đến với cô khi họ ở bên nhau. Cô yêu anh vì cách anh ngồi buông thả trên ghế, cách anh bước vào nhà hay cách anh chậm rãi đi ngang qua phòng bằng những bước dài. Cô yêu cái nhìn chăm chú trong mắt anh mỗi lần anh nhìn cô, hình dáng ngộ nghĩnh của miệng anh và nhất là cách anh yên lặng khi mệt, anh cứ ngồi yên cho đến khi rượu whiskey làm anh hết mệt.

“Anh mệt à, anh yêu?”

“Ừ” Anh nói. “Anh mệt”. Nói xong, anh làm một điều khác thường. Anh cầm ly lên và uống một hơi hết cả ly dù vẫn còn một nửa, hay ít nhất là gần nửa ly. Cô không nhìn anh nhưng biết anh làm như vậy vì nghe tiếng những viên nước đá rơi xuống đáy ly không lúc anh hạ tay xuống. Anh ngồi yên một chút, người nghiêng về phía trước rồi đứng dậy và chậm chạp đi rót một ly nữa.

“Để em lấy cho!” cô vừa kêu lên vừa đứng bật dậy.

“Ngồi xuống đi.” Anh nói.

Khi anh quay lại, cô để ý thấy ly rượu này màu hổ phách sẫm vì lượng rượu whiskey nhiều hơn. “Anh yêu, em lấy cho anh đôi dép nhé?”

“Không”.

Cô nhìn anh bắt đầu uống từng hớp rượu vàng sẫm và có thể thấy những vệt sáng ánh lên trong ly vì chất rượu mạnh quá.

“Em nghĩ thật là đáng xấu hổ.” Cô nói. “Khi họ để một người cảnh sát lớn tuổi như anh phải đi bộ suốt cả ngày”.

Anh không trả lời nên cô lại cúi đầu xuống và tiếp tục may, nhưng mỗi lần anh đưa ly lên miệng cô lại nghe rõ tiếng nước đá chạm vào thành ly lanh canh.

“Anh yêu,” Cô nói. “Em lấy cho anh một ít phó-mát nhé? Em không nấu bữa ăn tối vì hôm nay là thứ năm”.

“Không.” Anh nói.

“Nếu anh mệt quá không muốn đi ăn tiệm nữa,” cô nói tiếp “cũng vẫn còn sớm. Trong tủ đông còn nhiều thịt và các món khác, anh có thể ăn ngay ở đây, không cần bước ra khỏi ghế nữa”. Mắt cô nhìn anh chờ một câu trả lời, một nụ cười, một cái gật nhẹ, nhưng anh không làm gì cả. “Thôi, ” Cô nói tiếp, “em sẽ lấy cho anh một ít phó-mát và bánh bích-quy ăn trước nhé.” “Anh không muốn ăn”.Anh nói.

Cô bối rối cựa quậy trên ghế, cặp mắt to không rời khuôn mặt của anh. “Nhưng anh phải ăn chứ! Em cứ dọn lên vậy, rồi anh muốn ăn hay không tùy anh.”

Cô đứng lên và đặt đồ may lên bàn cạnh chiếc đèn.

“Ngồi xuống đi.” Anh nói. “Chỉ một phút thôi, ngồi xuống đi.” Đến lúc này cô mới bắt đầu cảm thấy sợ.

“Nào,” anh nói. “Ngồi xuống đi.”

Cô từ từ buông người ngồi xuống ghế, vẫn không ngừng nhìn anh bằng cặp mắt to ngơ ngác. Anh đã uống hết ly thứ hai và đang cau mày nhìn vào đáy ly. “Em nghe đây,” anh nói. “Anh có chuyện muốn nói với em.”

“Chuyện gì vậy, anh yêu? Có chuyện gì vậy?”

Bây giờ anh ngồi hoàn toàn bất động, đầu cúi thấp đến mức ánh sáng từ chiếc đèn bên cạnh anh chỉ chiếu sáng phần trên của gương mặt, còn miệng và cằm anh chìm trong bóng tối. Cô nhận thấy một bắp thịt nhỏ giật nhẹ gần đuôi mắt trái của anh.

“Anh e là điều này sẽ hơi sốc với em,” anh nói. “Nhưng anh đã suy nghĩ rất nhiều và anh quyết định cách duy nhất là nói với em ngay. Anh hy vọng em sẽ không trách anh nhiều quá.”

Rồi anh kể cô nghe. Câu chuyện không dài lắm, nhiều nhất cũng chỉ bốn hay năm phút và cô ngồi không nhúc nhích trong suốt thời gian đó, nhìn anh với cảm giác kinh hoàng đến ngây dại trong khi từng lời anh nói đưa anh đi càng lúc càng xa cô.

“Chuyện là như vậy,” anh nói thêm “và anh biết nói với em lúc này là không tốt, nhưng không còn cách nào khác. Dĩ nhiên anh sẽ đưa tiền cho em và nhờ người chăm sóc em. Nhưng thật sự không cần làm ầm ĩ lên. Anh mong là không. Như vậy sẽ không tốt cho nghề nghiệp của anh.” Phản ứng đầu tiên của cô là không tin chút nào, là phủ nhận tất cả. Cô nghĩ có lẽ anh đã không hề nói gì, rằng chính cô đã tưởng tượng ra tất cả câu chuyện đó. Có thể nếu cô tiếp tục làm việc của mình và hành động như cô không hề nghe thấy gì, cô sẽ thức dậy và sẽ thấy những chuyện ấy chưa bao giờ xảy ra với cô.

“Em đi lấy bữa ăn tối.” Cuối cùng cô tập trung hết sức nói khẽ và lần này anh không ngăn cô nữa.

Khi cô đi ngang qua phòng cô không hề cảm thấy chân mình chạm vào sàn nhà. Cô không cảm thấy gì cả, ngoại trừ một chút cảm giác buồn nôn và ý muốn nôn ra. Mọi thứ đều tự động xảy ra trước mắt cô, những bậc thang dẫn xuống tầng hầm, công tắc đèn, cái tủ đông rất sâu, bàn tay thò vào trong ngăn thức ăn cầm lấy món đồ đầu tiên trong tầm tay. Cô nhấc nó lên và nhìn. Nó được bao giấy nên cô tháo bỏ tờ giấy và nhìn lần nữa.

Một cái đùi cừu.

Đúng rồi, họ sẽ ăn thịt cừu trong bữa ăn tối. Cô mang nó lên lầu, cầm cái đầu xương dài và hẹp bằng cả hai tay, khi cô đi vào phòng khách, cô thấy anh đang đứng bên cửa sổ quay lưng lại với cô và cô đứng lại.

“Vì chúa,” anh nói khi nghe tiếng chân cô nhưng không quay lại. “đừng dọn ăn tối cho anh. Anh phải đi đây.”

Ngay lúc đó, Mary Maloney đi đến phía sau anh và không hề dừng lại, cô vung cái đùi đông cứng lớn lên cao và đập hết sức mình vào phía sau đầu anh.

Nếu đó là một cái dùi cui bằng thép cô cũng sẽ đập mạnh như vậy.

Cô lùi lại một bước, đợi, và thật buồn cười là anh vẫn còn đứng đó ít nhất là năm hay sáu giây, người lắc lư nhè nhẹ. Rồi anh đổ xuống tấm thảm.

Tiếng ngã ầm xuống, tiếng động, cái bàn lật nhào giúp cô thoát khỏi cú sốc. Cô từ từ tỉnh lại, cảm thấy lạnh và ngạc nhiên, và cô đứng nhìn cái xác một lúc, vẫn cầm chặt tảng thịt hình dáng buồn cười bằng cả hai tay.

Được rồi, cô tự bảo mình. Vậy là mình đã giết anh ấy.

Bây giờ, thật lạ lùng là trí óc cô đột nhiên trở nên sáng suốt. Cô bắt đầu nghĩ rất nhanh. Là vợ một thám tử, cô biết rất rõ hình phạt cho tội giết người sẽ là gì. Càng tốt. Điều đó không quan trọng gì với cô. Thật ra, đó sẽ là một sự giải thoát nhẹ nhõm. Nhưng còn đứa bé? Người ta xử những kẻ sát nhân mang những đứa trẻ chưa sinh ra thế nào? Họ có giết cả mẹ lẫn con không? Hay họ sẽ đợi cho đến tháng thứ mười? Họ sẽ làm gì?

Mary Maloney không biết. Và chắc chắn cô không mong đợi một sự may mắn.

Cô mang tảng thịt vào bếp, bỏ vào nồi, mở lò nướng ở nhiệt độ cao và đặt nó vào. Rồi cô rửa tay và chạy lên lầu vào phòng ngủ. Cô ngồi trước gương, vuốt lại tóc, sờ nắn gương mặt. Cô thử mỉm cười. Nụ cười trông rất kỳ quặc. Cô thử lần nữa.

“Chào anh, Sam.” Cô nói lớn, vui vẻ, giọng cô nghe cũng kỳ quặc. “Tôi muốn mua ít khoai tây, Sam ạ. Vâng, và tôi muốn một hộp đậu.”

Có vẻ tốt hơn. Cả nụ cười và giọng nói đều có vẻ tự nhiên hơn. Cô tập thêm nhiều lần nữa. Rồi cô chạy xuống nhà, mặc áo khoác, ra cửa sau, qua vườn và ra đường.

Chưa đến sáu giờ và cửa tiệm thực phẩm vẫn còn sáng đèn. “Chào anh Sam.” Cô vui vẻ nói, mỉm cười với người đàn ông đứng sau quầy. “Ồ, chào bà Maloney. Bà có khỏe không?”

“Tôi muốn mua ít khoai tây, Sam ạ. Vâng, và tôi muốn mua một hộp đậu.” Ông ta quay lại, với tay lên giá để đậu sau lưng.

“Patrick nói anh ấy mệt và không muốn đi ăn tiệm tối nay.” Cô kể với ông ta. “Anh cũng biết chúng tôi thường đi ăn tiệm ngày thứ năm và bây giờ trong nhà không còn rau.” “Còn thịt thì sao, bà Maloney?”

“Không, tôi có thịt rồi, cảm ơn anh. Tôi còn một cái đùi cừu ngon trong tủ đông.” “Ồ.”

“Tôi không biết nhiều về chuyện nấu thức ăn đông lạnh, Sam ạ, nhưng lần này tôi sẽ nấu xem sao. Anh nghĩ ăn có ngon không?”

“Theo ý tôi” người bán hàng nói “Tôi tin là cũng không khác gì thức ăn tươi đâu. Bà muốn mua loại khoai Idaho này không?”

“Ồ vâng, như vậy sẽ tốt đấy. Cho tôi hai cân loại đó.” “Bà mua gì nữa không?” người bán hàng nghiêng đầu sang một bên vui vẻ nhìn cô. “Còn sau đó? Bà sẽ cho ông ấy ăn tráng miệng món gì?”

“À, anh đề nghị món gì, Sam?” Ông ta nhìn quanh cửa hàng. “Một khoanh lớn phó-mát ngon lành nhé? Tôi biết ông ấy thích bánh đó.”

“Tuyệt.” Cô nói. “Anh ấy rất thích bánh đó.”

Sau khi Sam gói thức ăn và cô trả tiền, cô mỉm cười thật tươi, nói “ Cám ơn anh nhé Sam. Chúc anh ngủ ngon.”

“Chúc bà ngủ ngon, bà Maloney. Và cảm ơn bà.”

Cô tự bảo mình tất cả những điều cô đang làm trong khi vội vã về nhà, rằng cô đang về nhà với chồng và anh đang đợi bữa ăn tối, cô phải nấu cho nhanh và nấu cho thật ngon vì người đàn ông đáng thương đang mệt, và nếu khi bước vào nhà cô tình cờ thấy điều gì bất thường, bi thảm hay khủng khiếp, tất nhiên đó sẽ là cú sốc mạnh và cô sẽ cuồng dại lên vì buồn rầu và sợ hãi. Phải nhớ rằng cô không chờ đợi điều gì hết. Cô chỉ đang về nhà với số rau vừa mua. Bà Patrick Maloney đang đem rau về nhà vào tối thứ năm để nấu bữa tối cho chồng.

Đó là những điều phải xảy ra, cô tự bảo mình làm mọi việc đúng cách và tự nhiên. Cứ để mọi thứ xảy ra hoàn toàn tự nhiên và không cần phải diễn xuất gì cả.

Vì vậy khi cô bước vào bếp qua cửa sau, cô vừa hát nho nhỏ một mình vừa mỉm cười. “Anh Patrick!” cô gọi. “ Anh yêu, anh còn mệt không?”

Cô đặt gói hàng lên bàn rồi đi vào phòng khách, khi cô nhìn thấy anh đang nằm đó, chân co quắp lại, một cánh tay bị đè dưới thân người, đó gần như là một cú sốc thật sự. Tất cả những sự yêu thương và chờ đợi anh trào dâng trong cô và cô chạy đến bên anh, quỳ xuống bên cạnh và bắt đầu khóc thảm thiết. Thật dễ dàng. Không cần phải giả vờ.

Vài phút sau cô đứng dậy và đi tới điện thoại. Cô biết số của đồn cảnh sát và khi người đàn ông trả lời, cô kêu lên: “Nhanh lên! Đến đây nhanh lên! Anh Patrick chết rồi!” “Ai gọi đấy?”

“Bà Maloney. Bà Patrick Maloney.”

“Bà nói là ông Patrick Maloney đã chết?”

“Tôi nghĩ vậy.” Cô khóc. “ Anh ấy nằm dưới sàn nhà và tôi nghĩ anh ấy chết.”

“Chúng tôi đến ngay.” Ông ta nói.

Xe cảnh sát đến rất nhanh, khi cô mở cửa trước, hai ngưới cảnh sát bước vào. Cô biết cả hai người. Cô biết gần hết những người làm việc trong khu vực và cô ngã ngồi xuống một cái ghế, lát sau cô đến bên người tên O’Malley đang quỳ bên cái xác. “Anh ấy chết rồi sao?” cô kêu lên.

“Phải. Chuyện gì đã xảy ra?”

Một cách ngắn gọn, cô kể lại chuyện cô đi mua rau và trở về nhà, thấy anh nằm dưới sàn. Trong khi cô kể, vừa kể vừa khóc, Noonan tìm thấy một vết máu đông nhỏ phía sau đầu người chết. Anh ta chỉ nó cho O’Malley xem, anh này lập tức đứng dậy và vội vàng gọi điện thoại.

Không lâu sau, những người khác bắt đầu đến. Đầu tiên là một bác sĩ, rồi đến hai thám tử, cô biết tên một trong hai người đó. Sau đó một người thợ chụp hình của cảnh sát đến chụp hình và một chuyên viên lấy dấu tay. Họ thì thầm trao đổi với nhau và lẩm bẩm rất nhiều chung quanh cái xác, các thám tử hỏi cô rất nhiều câu. Nhưng họ luôn đối xử tử tế với cô. Cô kể lại câu chuyện, lần này cô kể từ đầu, khi Patrick về nhà, cô đang may đồ, và anh mệt, rất mệt đến mức anh không muốn ra ngoài ăn tối. Cô kể cô đã bỏ thịt vào lò_ bây giờ vẫn đang nấu ở đó_ như thế nào, rồi cô chạy ra tiệm thực phẩm mua rau như thế nào, và khi trở về đã thấy anh nằm ở dưới sàn nhà.

“Tiệm thực phẩm nào?” một thám tử hỏi.

Cô nói tên và anh ta quay đi, nói nhỏ vài câu với một thám tử khác, người này lập tức ra khỏi nhà.

Mười lăm phút sau anh ta trở lại với một tờ ghi chép và họ nói nhỏ với nhau nhiều hơn, giữa những tiếng khóc của mình, cô nghe được vài đoạn rời rạc “... cư xử rất bình thường.... rất vui... muốn nấu cho anh ấy một bữa tối ngon... đậu...bánh phó-mát... không thể là cô ấy...”

Một lát sau, người chụp hình và ông bác sĩ bỏ đi, hai người đàn ông vào và đặt cái xác lên băng ca mang đi. Kế đó người lấy dấu tay ra đi. Hai thám tử ở lại, hai người cảnh sát cũng vậy. Họ rất ân cần với cô và Jack Noonan hỏi cô có muốn đi nơi nào khác không, có thể là nhà chị của cô, hay nhà của anh ta, vợ anh ta sẽ chăm sóc cô và để cô ở qua đêm.

“Không,” cô nói. Cô cảm thấy mình không thể đi được dù là một bước ngay lúc này. Họ vui lòng để cô ở đây cho đến khi nào cô cảm thấy đỡ hơn. Bây giờ cô cảm thấy không khỏe, quả thật là như vậy.

“Vậy có lẽ cô nên nằm nghỉ trên giường?” Jack Nooan hỏi. “Không,” cô nói. Cô muốn ở lại đây, ngay trên ghế này. Có lẽ một chút nữa khi cô thấy đỡ hơn, cô sẽ dời chỗ.

Vậy là họ để cô ngồi đó trong khi họ tiếp tục lục soát căn nhà. Thỉnh thoảng một thám tử lại hỏi cô một câu. Mỗi khi Jack Noonan đi ngang qua, anh ta lại nói với cô vài câu nhẹ nhàng. Anh ta nói chồng cô đã bị giết bằng một cú đập mạnh vào sau đầu với một món đồ nặng không sắt bén, hầu như chắc chắn là một vật kim loại lớn. Họ đang tìm món vũ khí đó. Có thể tên sát nhân đã mang nó theo, nhưng cũng có thể hắn đã ném nó đi hay dấu đâu đó trong nhà. “Lúc nào cũng vậy.” Anh ta nói “Tìm được vũ khí là sẽ tìm được thủ phạm.”

Sau đó, một thám tử đến ngồi cạnh cô. Anh ta hỏi cô có biết vật gì trong nhà có thể dùng làm vũ khí không? Có thể nhìn quanh xem có thiếu thứ gì không? Thí dụ như một cái mỏ lết thật lớn, hay một cái bình kim loại nặng.

Họ không có cái bình kim loại nặng nào, cô nói.

“Hay một cái mỏ lết lớn?”

Cô không nghĩ họ có mỏ lết lớn. Nhưng có thể có vài món như vậy trong ga-ra. Cuộc tìm kiếm tiếp tục. Cô biết có những người cảnh sát khác trong khu vườn quanh nhà. Cô nghe tiếng chân họ trên lớp đá sỏi bên ngoài và thỉnh thoảng nhìn thấy một tia sáng lóe lên qua khe những tấm màn. Trời bắt đầu về khuya, gần chín giờ, cô nhìn thấy từ cái đồng hồ trên kệ lò sưởi. Bốn người đàn ông tìm kiếm trong nhà có vẻ bắt đầu mệt mỏi và hơi bực tức.

“Anh Jack,” cô nói khi trung sĩ Noonan đi ngang qua. “Anh có thể cho tôi một chút rượu được không?”

“Được chứ. Bà uống whiskey này nhé?”

“Vâng. Nhưng một ly nhỏ thôi. Có lẽ nó sẽ giúp tôi khỏe hơn.”

Anh ta đưa ly cho cô.

“Sao anh không lấy một ly cho anh?” cô nói “Chắc anh phải mệt lắm. Anh vui lòng uống đi mà. Anh thật tử tế với tôi.”

“À.” Anh ta trả lời “chuyện này không hợp luật lệ, nhưng tôi có thể uống một chút thôi để có sức làm việc tiếp.”

Những người khác lần lượt vào và cô thuyết phục được từng người uống một chút whiskey. Họ đứng chung quanh cô, hơi lúng túng với những ly rượu trong tay, bối rối vì sự có mặt của cô, vừa cố gắng an ủi cô. Trung sĩ Noonan tình cờ bước vào bếp, trở ra ngay và nói: “Ồ, bà Maloney. Cái lò nướng của bà còn cháy và có thịt trong đó.”

“Thôi chết rồi!” cô kêu lên “ đúng vậy!”

“Tôi tắt nó dùm bà nhé?” “Anh làm giúp cho, anh Jack. Cám ơn anh nhiều lắm.” Khi viên trung sĩ trở lại, cô nhìn anh ta bằng cặp mắt lớn màu sẫm đầy nước mắt. “Anh Jack Noonan,” cô nói.

“Vâng?”

“Anh vui lòng giúp tôi một việc nhé- anh và các anh này?”

“Vâng, bà Maloney.”

“À.” Cô nói “tất cả các anh đang ở đây và là bạn tốt của anh Patrick, các anh đang cố bắt người đã giết anh ấy. Chắc các anh phải đói lắm vì đã quá giờ ăn tối lâu rồi. Tôi biết Patrick sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi, Chúa phù hộ cho anh ấy, nếu tôi để các anh ở trong nhà của anh ấy mà không tiếp đãi các anh hết lòng. Các anh vui lòng ăn hết món thịt cừu trong lò đi, lúc này nó vừa chín tới rồi.”

“Tôi không nghĩ đến chuyện đó đâu.” Trung sĩ Nooan nói.

“Có chứ.” Cô nài nỉ. “Các anh ăn đi mà. Tôi không thể ăn một món gì trong nhà, nhất là những món đã nấu khi anh ấy còn sống. Nhưng với các anh thì không sao. Các anh ăn hết sẽ là giúp cho tôi đấy, ăn xong rồi các anh có thể tiếp tục làm việc.”

Bốn người cảnh sát lưỡng lự một chút, nhưng họ đang rất đói và cuối cùng cô thuyết phục được họ vào bếp tự dọn lấy bàn ăn. Người phụ nữ ngồi yên chỗ cũ, lắng nghe họ nói chuyện với nhau trong khi ăn, giọng họ khàn đi và lúng túng vì miệng đầy thịt. “Ăn thêm chút nữa nhé, Charlie?”

“Thôi. Tốt hơn đừng ăn hết.”

“Bà ấy muốn chúng ta ăn hết mà. Bà ấy nói như vậy. Chúng ta chỉ giúp bà ấy thôi.”

“Thôi được. Cho tôi thêm miếng nữa.”

“Cây gậy tên đó đã dùng để đập cậu Patrick tội nghiệp chắc phải lớn khủng khiếp.” một người nói.

“Bác sĩ nói sọ của anh ấy nát vụn ra như bị búa tạ đập.”

“Cho nên sẽ dễ tìm ra nó thôi.”

“Tôi cũng nói vậy.”

“Dù là ai, hắn cũng không thể nào mang một vật như vậy kè kè bên mình sau khi dùng nó.” Một người ợ lên.

“Theo ý tôi, nó phải ở ngay trong nhà.”

“Có khi ở ngay trước mũi chúng ta. Anh nghĩ sao, Jack?”

Trong căn phòng kế bên, Mary Maloney bắt đầu cười khúc khích.
2902




Pat vừa tỉnh khỏi thuốc mê. Anh ta rên rỉ:
- Lạy Chúa, thế là xong rồi!
- Đừng tưởng bở
- Người bệnh nằm cạnh nói
- Họ đã để quên cả gạc trong bụng tôi và tôi đã bị mổ toang ra một lần nữa đấy! Một người bệnh ở giường phía trước uất hận:
- Còn với bụng tôi thì một lần quên kéo, một lần quên chai cồn! Đúng lúc đó, bác sĩ phẫu thuật
- người vừa mổ cho Pat
- gọi vọng xuống phòng:
- Có ai nhìn thấy chiếc mũ của tôi đâu không? Pat nghe xong ngất luôn.
2348




Cánh đồng Kinh ngang này vào mùa nước ngọt, các thứ chim lớn như gà dãy, giang sen, chàng bè, lông ô, khoang cổ, diệc mốc từ trong rừng U Minh lũ lượt kéo ra kiếm ăn. Chúng quần đảo mát trời, giậm nhẹp những đồng lúa sạch trọi. Tất cả các loại chim đó chỉ có giang sen với khoang cổ là thịt ăn có lý, còn phần lớn ăn xảm xì như trứng rồng. Nói thì nói vậy chứ dù ngon hay dở mình cũng phải gài bắt cho ráo đợt để đem ra chợ bán, kẻo chúng phá lúa chịu không thấu.

Cái đám thằng Cường, thằng Thọ gài bẫy đạp, bẫy cò ke, bẫy mổ chỉ bắt trầm kha mỗi ngày vài chục con, có thấm bổ gì. Tui nghĩ ra một cách gài khác tụi nó. Bữa đó tui bỏ một ấm trúm xuống xuồng chống vô rừng đặt lươn. Đem về, tui lựa rặc thứ lươn da vàng, đầu nhọn, loại này mạnh lắm. Tui lấy chỉ ni-long thật chắc cắt ra một sợi dài chừng hai tầm đất, một cầu khúc cây ngáng ngang, một đầu tui cột ngay vào chỗ rún con lươn. Làm xong, tui ôm ra bẫy ruộng thả hai con lươn thành một cặp gần nhau.

Sáng ngày hôm sau, tôi bò ra ruộng rình xem. Ban đầu có một con gà dãy đi lọm khọm tới bên con lươn vừa trông thấy rồi đứng khựng lại, ngóng cổ, liếc mắt nhìn. Thấy con lươn bò nhọi nhọi, nó nhảy vọt tới mổ vào đầu. Con lươn bị đau quá vọt luôn vô bụng con chim rồi tuột ra sau đít. Tới con giang sen cũng vậy. Nó nhảy tới mổ vào đầu con lươn, con lươn vọt mạnh vô bụng, dùi luôn ra sau. Rồi lại đến con chàng bè cũng y vậy...

Một con lươn mồi của tui vọt đến chết xỏ lụi ít nhất cũng một chục con chim. Như vậy là cứ hai xâu làm một, tôi cầm mỗi tay một cây ngáng, la cho chim bay lên, mang tui theo. Tui bay bỗng mặt đất mà lái từng cặp xâu chim thả ra ví vô, về nhà giao cho bả trói đem ra chợ Sông Đốc bán. Vậy mới đã!1196


Powered by Blogger.