Hai anh chàng thất nghiệp ngồi tán phét:

- Tôi sẽ làm nghề thuần hóa sư tử.

- Anh điên à? Anh thì biết gì về sư tử mà thuần hoá?

- Tôi có biết chứ.

- Vậy tôi hỏi anh, khi một con sư tử đến gần anh, nó gầm gừ, nhe nanh giơ vuốt định cắn anh thì anh làm gì?

- Tôi sẽ chụp lấy cái ghế sắt ở gần đó, dùng hết sức đánh cho nó lùi lại.

- Nếu như con sư tử không sợ, nó chụp lấy cái ghế của anh rồi lôi ra xa. Anh sẽ làm gì?

- Tôi sẽ dùng roi quật hết sức vào nó cho đến khi nó lùi lại.

- Thế nếu sư tử đớp được cái roi rồi cắn nát thì sao?

- Tôi sẽ lấy súng bắn nó.

- Thế nếu súng không hoạt động?

- Tôi sẽ nhặt ít phân trên nền chuồng, ném vào mặt nó rồi chạy ra khỏi chuồng.

- Nhưng trong trường hợp trong chuồng không có phân thì sao? Anh sẽ làm gì?

- Anh chẳng hiểu gì cả. Nếu con sư tử tấn công tôi, chụp cả ghế sắt lôi ra xa, cắn nát cái roi của tôi, rồi súng của tôi lại không hoạt động được thì chắc chắn là trong chuồng sẽ phải có phân. Tôi dám cược với anh đấy.2504




Cuối tháng Chín, tôi đến trường đại học và học ở khoa Sử. Lúc ấy, tôi đã hai mươi lăm tuổi vì phải qua vài năm quân ngũ. Tôi cảm thấy kiến thức không hụt hẫng bao nhiêu khi giáo trình học có mấy điều ở trung học đã nói đi nói lại.

Ở miền Nam, mùa Thu là mùa mưa dầm. Mẹ nói lúc còn nhỏ tôi rất khó tính. Chỉ khi nào ngoài cửa có gió đùa những chiếc lá rơi thì tôi chăm chú nhìn và mới chịu thôi khóc. Đó là chuyện ngày nhỏ. Bữa nọ, khi thầy phụ trách môn triết học đang thao thao bất tuyệt về những cặp phạm trù, tôi buồn ngủ nên chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ. ở đó có những chiếc lá khô tai tái rơi và đôi chim se sẻ đang rượt đuổi nhau. Phía xa xa là vùng đồi thấp lưa thưa vài bụi cò ke và hoa sim.

"Này, đứng dậy! Cả cô bé kia...".

Thầy giáo quát khi đứng trước mặt tôi. Tôi chẳng hiểu sao tôi không run khi nghe tiếng quát ấy.

"Nhắc lại những gì nãy giờ xem!" - Thầy bảo.

"Dạ, phạm trù...".

"Gì nào?".

Tôi liều:

"Ví dụ có hai con se sẻ. Một con trống và con kia là mái...".

Có nhiều tiếng cười nho nhỏ.

"Tốt lắm!" - Thầy giáo gầm lên - "Ngồi xuống! Một điểm".

"Còn cô bé kia, sao ngủ?" - Thầy giáo chỉ tay về phía cuối giảng đường, dãy nữ. Tôi thấy đó là một cô gái mảnh mai, mặt đỏ dừ.

Nàng lí nhí:

"Tối qua em không ngủ được!".

"Em đùa đó à?".

"Dạ, không".

"Vì sao?".

Nàng lúng túng. Tôi cảm thấy thích cô ta. Tôi im lặng...

Mười một giờ mười lăm, có tiếng chuông điện ngoài hành lang. Buổi học đã hết. Tôi không vội về ký túc xá sinh viên mà lại đi chầm chậm theo những con đường vòng qua chân đồi. Bầu trời mùa thu không nắng, đầy mây báo hiệu chiều sẽ có trận mưa lớn.

"Gì mà như mất hồn vậy?".

Tôi quay lại và bắt gặp câu hỏi của nàng. Nàng cười nhưng đôi mắt lại buồn như áng mây mưa.

"Có gì đâu" - Tôi đáp.

"Giấu?".

"Thật đó. Này, vào quán cà phê "Tí Ti" chút không?" - Tôi đề nghị.

"Ờ..." - Nàng nhẹ nhàng.

Tôi gọi một cà phê đen và ly xí muội. Cô chủ quán tên Hạ có bộ ngực nhỏ nhưng có cái liếc mắt tuyệt vời tỏ ra giận dỗi khi thấy tôi ngồi với phụ nữ. Tôi giả tảng nhìn ra cửa và thấy vài người đang gò lưng đạp xe lên dốc. Phía cuối chân trời mù mù hình hài những ngọn núi.

"Bỏ cơm trưa à?" - Tôi hỏi.

"Thế này thú vị hơn" - Nàng đáp.

"Ngoại ngữ mà lớp nào đó?".

"Pháp".

"Ô là là... Cha người Việt. Mẹ người Việt. Mình nói tiếng Pháp. Cái đẹp của phương Tây kết hợp với cái duyên dáng của phương Đông. Tuyệt vời!".

"Anh định tán tỉnh tôi ư?" - Nàng gắt.

"Tinh lắm, Hạ Fim" - Tôi nói.

"Tôi không để anh vượt đến mười đâu. Tình bạn là chính".

"Vậy thì hãy uống nước đi và chia tay nhau. Tôi đói lắm rồi đây" - Tôi thở dài.

Chúng tôi chia tay nhau khi trời sắp mưa. Nàng leo lên ô tô buýt về Sài Gòn. Tôi trở về ký túc xá và xuống nhà ăn. Đã quá giờ ăn mười phút. Bà phát cơm càu nhàu nhưng cũng đem ra cho tôi một dĩa đầy những mẩu cháy dở và vài que đậu luộc. Tôi nói lời cám ơn.

Hai mùa Thu trôi qua lặng lẽ. Trong hai mùa Thu ấy tôi khám phá ra biết bao điều về nàng, ngay cả cái tên Đoàn Hạ Fim kỳ dị. Cha nàng người Kinh, hiện là cán bộ cấp cao ở Gia Lai - Kon Tum. Mẹ nàng người Ê-đê đã mất trong chiến tranh. Nàng mang hai dòng máu trong thân thể được tạo hóa phú cho dáng vẻ thanh mảnh và đôi mắt có quầng đẹp như một vũ nữ ấn Độ. Cái tên Hạ Fim chỉ là kỷ niệm của mẹ nàng khi lần đầu được ra Hà Nội xem phim. ở đó, người con gái Ê-đê đã gặp người con trai Kinh có ngón đàn tài hoa viết nền nhạc cho bộ phim. Khi ấy là mùa hạ, mùa hạ Hà Nội.

Tôi không nhớ nàng đã khéo léo như thế nào để chuyển từ tình yêu đơn phương của tôi đối với nàng sang tình bạn. Tôi chỉ nhớ rằng vào ngày Tết chúng tôi đi xem đá gà ở Bến Tre và đến Lái Thiêu vào mùa hè. Nàng rất mê đá gà còn tôi thì chỉ thích xem máu gà nhểu xuống đất. ở vườn trái cây Lái Thiêu thì thú vị hơn nhưng không bao giờ nàng để cho tôi được sờ vào người nàng.

Một lần, nàng bảo khi đang ngồi nơi quán cà phê "Tao Nhân" là hãy giới thiệu nàng với một chàng trai có thể đi đến hôn nhân.

"Được thôi" - Tôi đáp.

Và nàng mua cho tôi gói Pallmal. Lần đầu tiên trong đời tôi ăn hối lộ bằng cách bỏ gói thuốc vào túi áo và đốt một điếu. Sau đó là cơn ho kéo dài. Nàng cười khanh khách như để khỏa lấp thời gian lặng im ngượng ngùng của tôi.

Suốt buổi chiều hôm đó tôi đi lang thang. Tôi đến quán rượu số 128 và gọi mang loại Gò Đen. Ông chủ nói rằng loại Gò Đen đã hết nên tôi đành phải mua chai ruợu Hà thủ ô. Tôi uống để nhớ nàng. Nàng không yêu tôi nhưng tôi không muốn mất nàng. Đối diện với người con gái thì bất cứ chàng trai nào cũng tỏ ra cao thượng, dù là giả vờ nên tôi định giới thiệu người bạn nhạc sĩ của tôi cho nàng. Hắn là một nhạc sĩ chưa được tổ chức công nhận nhưng rất xứng đáng là một nhạc sĩ.

Họ gặp nhau vào năm ngày sau đó tại buổi khiêu vũ ở Nhà Văn hóa Lao động. Tôi ngồi ở vỉa hè với cốc cà phê đen và ngắm những đôi tình nhân dẫm qua lá khô trên mặt đường. Một gã phế nhân ẵm đứa nhỏ khoảng vài tháng tuổi và để đầu nó chúi xuống đất đi ăn mày. Tôi cho tay vào túi và phát hiện không còn đủ tiền, nên thôi.

Hai tuần trôi qua, nàng không đến tìm tôi như ngày trước. Tôi cũng không muốn gặp nàng chi nữa. Khoảng thời gian ấy, vào lúc chiều tôi đi đến bến Bạch Đằng nhìn những con tàu lừng lững trôi về phía biển và những con đò sang Thủ Thiêm... Có một lần tôi bị bọn móc túi cuỗm đi cái bóp có thẻ Đoàn và những phiếu ăn ở phía trong.

Nàng gặp lại tôi vào buổi trưa khi tôi đang ngồi nơi quán "Tí Ti". Lúc ấy tôi vừa uống cà phê vừa xem bức tranh "Vénus endormie". Nhìn bức tranh, nàng đỏ mặt như những người con gái thường đỏ mặt.

"Sao?" - Tôi hỏi.

"Một kẻ ba hoa!" - Nàng bĩu môi.

"Lạ!".

"Chả cứ nói chính trị với con gái. Mọi người đều bất tài và chỉ có nhạc sĩ như chả mới có tài".

"Chắc nó đùa".

Tôi bênh vực cho thằng bạn nhạc sĩ của tôi dù tôi chưa hiểu gì về tính tình của nó. Nàng im lặng. Tôi nhìn luồng gió xoáy từng đụn cát trên đỉnh đồi. Sau đó nàng chê tôi là mất lịch sự khi không mời nàng uống nước. Tôi xin lỗi và gọi ly trà đá. Có một nhóm sinh viên tóc dài, mặt ngầu và một nhóm sinh viên tóc ngắn như ở tù bước vào. Theo sau là hai cô gái ăn mặc kiểu Việt kiều, vải mong mỏng. Họ huýt sáo ầm ĩ...

Chúng tôi ra khỏi quán và đi về phía rừng tràm. Nàng như con chim nhỏ cứ líu lo quanh những bụi cò ke. Chúng tôi hái được một nón đầy trái cò ke chín.

"Hắn được không?" - Tôi hỏi.

"Không" - Nàng nhìn tôi, rất lạ.

"Người khác nhé?".

"Ờ, nhưng phải khá".

Dạo ấy tôi hiểu từ khá của nàng là giàu. Tôi trách nàng cho là tôi nghèo nên không để tôi vượt quá tình bạn.

Sau lần thi kỳ I khoảng một tháng, tôi giới thiệu với nàng người anh họ của tôi ở Hải quan. Hai người cười với nhau ở lần gặp đầu tiên và tôi không nhìn lâu cái cảnh gây khó chịu cho tôi.

Tiếp theo những ngày ấy là tôi bắt đầu vào việc làm tiểu luận. Tôi lê lết ở Thư viện Quốc gia và các đại lý sách báo nên hình bóng nàng thỉnh thoảng lóe lên thấp thoáng trong đầu tôi. Tôi thường uống cà phê gần nhà thờ Đức Bà. Mọi cô gái tóc dài đi ngoài đường tôi đều ngỡ là nàng. Nhưng họ đều dửng dưng với tôi như nàng đã dửng dưng.

Lúc đó có một người con gái đi đến và nói:

"Anh yêu! Cho em xin điếu thuốc" - Cô ta tự nhiên kéo ghế.

"Buồn ngủ à?" - Tôi hỏi.

"Thì anh biết đó. Cả đêm...".

"Đã lâu chưa?".

"Gần một năm. Rất bảo đảm và rất trẻ".

"Tôi ngỡ là thiếu nhi nghĩa địa chứ!".

"Anh đùa dai!".

"Ta yêu nhau nhé?".

Tôi đề nghị thẳng thừng điều ấy khi chợt nghĩ ra cách để trêu tức Fim. Khi đó là tháng Năm và trời thường đổ những trận mưa nhỏ, thật buồn.

Tôi biết vào đêm chúa nhật nàng hay đến Nhà Văn hóa Thanh niên. Quả nhiên nàng đã gặp tôi trong lúc tôi đang giả vờ âu yếm cô gái hành nghề mãi dâm mà tôi không cần biết tên. Tôi thấy nàng mím môi và bỏ đi về phía bãi gởi xe. Tôi vội buông cô gái và chạy theo nàng nhưng nàng đã lẩn mất giữa dòng người.

Anh họ tôi quát lên khi gặp tôi:

"Thằng ngốc, Fim nó yêu mày đó!"

"Điên! - Tôi nói.

"Tao đã qua mấy mùa kháng chiến, tao biết".

Và anh bỏ đi buồn bã như một người lính thất trận. Tôi cho tay vào túi quần vừa đi vừa huýt sáo như những người đàn ông châu Âu hay đi bách bộ dọc đại lộ vào những buổi sáng.

Nàng tránh gặp mặt tôi và không để lại một lời nói. Thấm thoát đã đến ngày tôi chia tay với trường đại học. Tôi đến tìm nàng nhưng các bạn nàng bảo rằng nàng bệnh. Tôi đi đến nhà người dì Ê-đê của nàng ở đường Đinh Tiên Hoàng nhưng bà nói là nàng đã đi Pleiku. Bà mời tôi vào nhà như một người thân quen lâu chắc là hàm ý để khoe những tài sản mà bà vừa sắm được. Tôi không nhớ gì về việc những vật ấy đã mua hồi nào và của nước nào theo lời bà nhưng tôi nhớ là tôi có xem quyển Album. Trong đó có ảnh của tôi và phía sau đề hàng chữ "Vua ngốc!".

Tôi từ giã bà Ê-đê và đón ô tô buýt đến quán cà phê "Tí Ti". Tôi ngồi đó suốt xế chiều và đêm tối. ở quán, họ mở nhạc Trịnh Công Sơn. Mưa tháng bảy dai dẳng xào xáo lòng người.

***

Hơn mười năm rồi tôi sống ở Bến Tre và không một lần có ý định trở lại Sài Gòn. Tôi cũng biết rằng nàng đang công tác ở ngành dịch thuật. Nàng đã trở thành một nhà văn dịch nổi tiếng.

Tôi gặp lại nàng ở Sài Gòn vào tháng chín khi nàng đang uống cà phê một mình nơi quán "Tao Nhân". Tôi ngồi xuống trước mặt nàng. Nàng sững sờ và sau đó thì khóc. Tôi đưa tay định lau những giọt nước mắt trên má nàng nhưng rồi dừng lại khi mắt tôi chạm vào bụng tròn của nàng.

"Fim đã lập gia đình?" - Tôi hỏi.

"Không!" - Nàng cúi mặt.

Suốt đời vẫn một tiếng không ấy. Và tôi đã hiểu điều tôi không muốn hiểu. Tôi đốt một điếu Scott và nhìn ra đường. ở đó đang có những giọt mưa nhảy nhót.

"Ngày ấy tôi có đến tìm Fim".

"Em biết... Nhưng... Fim không hề đi Pleiku!".

Tôi muốn cười vang như để hả hê cơn tức tối tích tụ đã hơn mười năm. Nhưng tôi thấy như thế là tồi nên tôi im lặng.

Chiều hôm ấy, khi chia tay nàng và hẹn sẽ còn gặp nhau, tôi đến quán cà phê "Tí Ti". Chủ quán là một cô bé cũng có bộ ngực nhỏ nhưng đôi mắt lại nghiêm nghị. Cô bé không biết tôi có một thời thường ngồi đây nên tự dưng tôi cảm thấy mình như đang lạc lõng ở xứ nào.

"Hạ tí ti đâu?" - Tôi hỏi.

Cô bé nhìn tôi lạ lẫm và chỉ ra phía đồi. Tôi thấy một nấm mồ trơ vơ. Sau đó cô bé kể cho tôi nghe vì sao chủ quán "Tí Ti" tên Hạ chết. Hạ tự tử khi đã gần kề ngày sinh vì kẻ lén lút ân ái với nàng bỏ đi về phương khác.

Tôi nhớ tới Fim. Tôi mường tượng cảnh nàng mang thai, thai hoang. Bây giờ, trước cốc cà phê, liệu tôi có dám chấp nhận làm cha cái thai ấy để tìm lại một tình yêu mà nàng đã cố công che giấu ở thời tuổi trẻ? Và chúng tôi sẽ lại tiếp tục giấu người đời một sự thật mà sự thật ấy đang hăm dọa đánh gục tiếng tăm của nàng, của một nhà văn dịch. Nếu hôm nay tôi không ngẫu hứng mà trở lại Sài Gòn thì mọi việc sẽ đi về đâu? ở đời có vô vàn cái ngẫu nhiên cũng như ngẫu nhiên cha và mẹ tôi yêu nhau để ngẫu nhiên mà tôi được hiện diện. Tôi cười ha ha một mình nhưng tôi thừa hiểu là tôi rất tỉnh táo.

Gió réo u u qua khoảng đồi. Ngoài đường, một nhóm sinh viên đang dầm mưa đi về phía ký túc xá.

Bến Tre, 1989

Nguồn: vnthuquan.net1652




Vợ thấy chồng chụp ảnh nhiều người mẫu quá phát điên lên:


- Anh chụp cũng đẹp đấy, nhưng tôi nói cho anh biết, hàng vạn đứa như thế này cũng chẳng bằng tôi!


- Ở chỗ nào?


- Ở chỗ tôi là... da là thịt.... rõ chưa?


***


Một anh bạn trẻ đi xem triển lãm tranh với vẻ thích thú tò mò. Thấy vậy, họa sĩ hỏi:


- Anh thấy tranh tôi vẽ thế nào?


- Rất thích!


- Thích ở chỗ nào?


- Chữ ký của anh đẹp và bay bướm quá!

439




Một hôm, ông có việc phải ra khỏi nhà vào buổi sáng. Lúc đi, ông khoá cửa và viết mấy chữ hẹn ở cánh cửa: "Ampe đi vắng, 16 giờ mới có mặt ở nhà."

Ông đi công chuyện, 14 giờ đã xong, ông trở về nhà mình. Đến nơi thấy dòng chữ nói trên, đang mãi suy nghĩ, ông quên khuấy mình chính la Ampe, ông thở dài, xem đồng hồ và lẩm bẩm:

-Vậy là mất đứt gần hai giờ chờ đợi.2462









Mòi ngước đôi mắt long lanh nhìn người yêu, giọng cô êm dịu như tiếng sóng dập dìu dang vỗ nhẹ vào bờ cát:


- Sắp đến ngày hai tư đấy anh nhỉ. Mà sao em thấy hồi hộp quá. Ngày ấy sẽ là một ngày tuyệt vời của chúng ta, cả một đời có một ngày mà lại. à, hôm đó em định mặc áo màu gì nhỉ? áo màu xanh nước biển phải không? Phải rồi, cái màu ấy gợi nhiều kỷ niệm lắm...


Nhụ nói, giọng anh bồi hồi. Hai người ngồi đã lâu trên bãi cát và nhìn ra biển. Đêm mùa hè, trắng sáng, sóng cứ ánh lên như dát bạc. Xa xa, một cánh buồm vừa ló ra giữa rừng khơi trông như một cánh chim đang xoè ra trước đồng cỏ xanh. Cả hai im lặng, họ mải mê theo đuổi những ý nghĩ hồn nhiên, đẹp đẽ đang hiện lên trong óc họ, ngày ấy gia đình, họ hàng, bè bạn và cả những người láng giềng sẽ được một ngày vui bốc trời, tất cả sẽ ăn mặc đẹp, sẽ nhảy múa, ca hát. Và Mòi chợt nhớ đến người cha, người đã nhóm lên mồi lửa đầu tiên cho mối tình của hai người... Cách đây gần hai mươi năm, cũng vào một đêm trăng như đêm nay, ông Thèn cùng không Trích đi biển khi hai người vợ của hai bạn chài này vừa sinh con; một trai, một gái. Giữa đường khơi, họ bắt gặp một đôi sam đang quấn quýt nhau bên mạn thuyền. Ông Thèn bảo ông Trích:


- Theo bác đây là điềm gì?


Ông Trích ngừng tay chèo, vê vê hàng râu ráp nước mặn:


- Có lẽ điềm báo con trai tôi sau này sẽ thành duyên với con gái ông rồi đây.


Ông Thèn xúc động:


- Cầu trời cho hai đứa sau này lớn lên sẽ yêu nhau như đôi sam kia.


- Và sẽ vun đắp cho chúng nhé - Ông Trích nói.


- Xin hứa.


Sóng xô vào mạn thuyền họ, con thuyền nghiêng ngả, nhưng hai tay thô tháp cứ nắm chặt nhau mãi.


Ở cái vùng biển huyện Hà này, làng Ngư Thương đánh cá truyền đời. Mỗi người dân ở đây thường tự hào rằng mình ra đời đã gặp biển, họ sống phóng khoáng và thẳng thắn. Những lời nói của họ dứt khoát và quyết liệt như mái chèo sóng, nhất là những khi thề ước. Nhưng ngày ấy cũng đã lâu lắm rồi. Ông Thèn qua đời, giữa một chuyến đi biển. Nhưng thật may cho những người còn sống, đôi trẻ lớn lên đã yêu nhau, rất yêu. Họ sắp làm đám cưới.


Mòi lại ngước nhìn người bạn đời tương lai, thỏ thẻ:


- Đêm trước lễ thành hôn của chúng ta, anh sẽ tặng em quả gì nào?


Nhụ cười hồn nhiên:


- Em muốn quả gì anh cũng thực hiện, dẫu sao anh phải lên trời hái ngôi sao long lanh kia...


Cả hai nhìn lên bầu trời ngát xanh trăng sao. Nhưng cả hai đều theo đuổi những ý nghĩ mãnh liệt. Một lát Mòi nói:


- Em chỉ muốn anh giết chết con mập trắng hung hãn. Con quỷ biển ấy đã giết bố em và những người ngư dân khác ấy.


- Được. Anh sẽ làm việc đó - Giọng Nhụ kiên quyết. Mòi cầm tay người yêu:


- Em biết. Chỉ có anh mới làm được việc đó, chỉ có tình yêu của chúng ta mới thôi thúc anh làm nổi việc đó.


Làng Ngư Thương có bao nhiêu tuổi là bấy nhiêu cuộc kén rể long trọng. Năm ấy ông muốn lấy một cô gái xinh tươi. Nhà gái thách cưới bằng một đôi cá dưa như hai cây thuồng luồng. Ông đã lặn xuống đáy biển ngoắc những lưỡi câu bằng đồng vào đôi cá dưa đang nằm trong hố bùn rồi lôi chúng lên mặt biển. Khi leo lên sạp thuyền, ông đã gõ dùi vào sạp thuyền, tiếng gõ theo tâm lan vọng vào bờ. Trong bờ pháo nổ. Đó cũng là tiếng pháo mừng đám cưới của ông. Bây giờ con trai ông lại đứng trước một thử thách tương tự, nhưng gay go và ác liệt hơn nhiều. Rót bát rượu đưa cho con trai, ông Trích bảo:


- Phải xứng đáng là chàng trai cừ khôi của biển cả con trai ạ.


Sáng hôm đó Nhụ chuẩn bị lên thuyền để ra khơi. Dân làng Ngư Thương tiễn Nhụ như tiễn người anh hùng ra trận. Bao nhiêu khuôn mặt hồi hộp, bao nhiêu nỗi lo phấp phỏng, dồn nén. Mọi người đều thầm cầu mong anh thành công. Nhưng những gã trai làng từng theo đuổi Mòi lại tỏ ra hớn hở cả. Họ tụ nhau ở bãi cát, có kể rỉ tai Nhụ, lúc Nhụ đi qua.


- Gắng mà bắt sống mấy con mập, vi của nó bây giờ là xuất khẩu, đắt giá lắm, thừa sức làm một đám cưới to.


Rồi họ liếc nhau mỉm cười. Nhưng Nhụ dường như không để ý đến họ. Anh đã nhổ neo, con thuyền lướt nhẹ trên sóng. Sau lưng anh, tiếng vỗ tay vang khắp bờ biển.


Đó là một ngày mùa hè đầy nắng. Từ mờ sáng, khi mặt trời đỏ rực vừa nhô lên khỏi ngấn nước biển xanh thẳm, không gian đã lan toả một ánh sáng lung linh.Ánh sáng làm cho đại dương đang từ tím biếc bỗng bừng lên như có dát bạc. Trên bầu trời, những đám mây xốp trôi bồng bềnh, những đám mây như bông ấy đùa nổi trên ngọn sóng. Xa xa, một đàn chim hải âu vừa xuất hiện, những cánh chim như những chiếc lá bay lả tả trong màu xanh của trời và biển.


Con thuyền của Nhụ vẫn băng ra khơi. Làng mạc, rừng phi lao lùi dần sau lưng Nhụ. Người trai làng Ngư Thương nắm chặt tay lái. Sóng vỗ vào mạn thuyền dạt dào,ăm ắp. Tiếng sóng nghe như tiếng reo hò vang vọng khích lệ anh, làm cho mũi thuyền anh lao nhanh trước trùng dương vô tận.


Trưa. Nắng giội xuống mặt biển, nắng gay gắt như trời sắp có bão. Gió tây thổi nhẹ, không khí oi bức. Những đàn cá lượn lững lờ trong lòng biển, thỉnh thoảng tiếng cá thu quẫy nhẹ, cá trích nổi lao xao, cá mòi đè tí tách, cá đuối nhảy rào rào như vãi lúa. Đột nhiên, một vệt nước tung lên giữa lớp sóng lừng - "Mày đấy hả?" Nhụ lẩm nhẩm. Anh xô tay láu mũi thuyền rẽ lên lướt nhanh về phía trước. Nhưng đại dương vẫn mênh mông. Dấu hiệu của con cá mập vừa xuất hiện đã biến mất. Bấy giờ trời đã ngả về chiều, ánh nắng loe một màu vàng trên mặt biển, gió nồm giộng lên làm cho những ngọn sóng loé sáng. Vào những lúc như vậy, Nhụ biết rằng con mập bắt đầu săn mồi. "Ta đã sẵn sàng rồi", Nhụ nhủ thầm. Anh soạn những lưỡi câu sắc lẻm cầm trên tay nhứ nhứ lên không trung như thể cứ làm như vậy con mập đã khiếp sợ. Nhưng rồi phải một lúc lâu, khi mặt trời đã lặn xuống sau dãy núi mờ xa, mặt biển đang xanh biếc bỗng trở nên màu thẫm, không gian tối dần. Có tiếng cá quẫy như tiếng sóng đập vào bờ đá làm cho mặt biển đang yên ả bỗng xao động. Con thuyền dùng mình chao đảo. Nhụ đứng vững trên sạp thuyền, đoạn anh cúi xuống bắt con cá đuối trong thùng mồi. Con đuối cong đuôi, mắt nheo lại như muốn nhắc anh hãy trả nó về với biển. Nhụ chợt bĩu môi, anh ngoắc lưỡi câu vào con đuối, con đuối giãy nảy trên tay anh. Nhụ thả con mồi xuống biển. Con đuối lượn một vòng quanh mạn thuyền như một cái đĩa lúng liếng trong lòng biển rồi nó từ từ bơi ra xa. Kìa con mập đang tiến lại, nó tiến lại một cách mau lẹ, và "pạch" nó vẫy đuôi, con đuối
giật mình lùi về phía thuyền. Nhưng Nhụ bỗng sững người nhìn thấy đàn cá chim đang nổi lên trông như những bông hoa nở xoè trong lòng biển. "Chúng mày làm gì thế này?" - Nhụ lẩm bẩm. Nhưng anh chưa kịp phác động tác báo động cho chúng về mối báo động nguy hiểm bởi sự có mặt của con mập thì đàn cá heo đã xuất hiện. Chúng xuất hiện một cách hồn nhiên như không, như thể biển cả bao giờ cũng là xứ sở tự do nhất của chúng. Con đầu đàn nhô cái mũi dài thở một hơi sảng khoái trên ngọn sóng, những con sau cứ thế nối tiếp nhau nhào lộn như một cuộc rong chơi bất tận. Và kìa... ở mõm mỗi con heo, chúng đều quặp một con cá hoặc một vật gì đó trông như những nhánh hoa. Đúng là đoàn cá đều mang theo những đồ vật: rong biển, hoá đá, và những con cá con còn sống, còn nũng nịu trước miệng chúng như thể chúng đang được nuông chiều. "Sao lại hoan hỉ thế này?" Nhụ tự hỏi và chưa kịp trả lời thì tấm lưng thô tháp của con cá mập lừ lừ nổi lên gần mạn thuyền. "À, mày dẫn xác lại đấy à?". Tức thì anh rê rê dây câu, tay phải cầm ngọn lao đã dựng sẵn dưới chân. "Nào, định thách thức với ta hả". Nhụ giơ mũi lao ra. Nhưng bàn tay Nhụ bỗng chùn lại khi thấy con mập có cái bụng to trắng hếu đang lướt tới, nó áp hông vào háng con đực, trông gợi cảm một cách trơ trẽn. Nhụ giơ ngọn lao ra. "Đồ phái yếu lả lơi, nhưng hãy tránh ra xa, ta chỉ muốn tiêu diệt con mập đực đáng nguyền rủa kia thôi". Bỗng nhiên, "pạch" lại "pạch" một cái nữa. Hai con mập cùng lúc quẫy đuôi lặn hút, để lại trên mặt biển một đám bọt trắng xoá.


Nhụ cáu: "Có mà chạy đằng trời". Đoạn anh vơ câu, kéo lèo buồm, chỉnh tay lái, con thuyền dấn lên phía trước. Qủa nhiên, chỉ một lát sau đó, đôi mập lại nổi nhô trên mặt biển. Bấy giờ bóng tối đã trùm hết không trung, trên bầu trời, những đám mây đen dày xuất hiện, một cơn giông lớn đã hình thành từ lúc nào; gió tây tạt ngược ngọn sóng, gió hất mạnh cánh buồm, con thuyền chòng chành. Nhụ buông lèo hạ buồm, cùng với gió, chớp giật soi sáng chân trời, sấm rền như những hồi trống đánh. Biển bỗng chốc sôi sục lên, sóng không lượn thành từng hàng mà chao đảo, nghiêng ngả. Sóng như đang giơ lên những nắm tay giận dữ tung những nắm đấm rực sáng về phía Nhụ. Anh vẫn đứng trên sạp thuyền. Kìa... đôi mập đã quay trở lại, nó hướng tới con thuyền - "Nguy rồi" Nhụ thầm nghĩ. Anh đạp mạnh tay lái, mũi tên bắn lên từ đáy đại dương. "Được, tao sẽ cho mày biết tay". Nhụ lẩm nhẩm - anh chỉnh mũi lao, con mập cái cũng tiến lại, cả hai con mập kéo hai vệt lân tinh sáng rực giữa lòng biển như hai gọng kìm đang quặp chặt lấy con thuyền.


Biển mỗi lúc một trở nên hung dữ. Sóng bất chợt tung thuyền lên cao rồi nhấn sâu xuống vực. Gió thốc vào lái thuyền, làm mũi thuyền dựng ngược, mưa cũng đã ập xuống, mưa xối xả như chút nước, những hạt mưa như những viên đá sỏi ào ào ném vào người Nhụ. Anh cau mặt, nhưng anh cố đứng vững. Trong đầu anh hiện lên khuôn mặt người yêu, ôi khuôn mặt hồn nhiên trong sáng đã từng bừng sáng lên một niềm tin và hy vọng:


- Anh hứa đi, chỉ có anh mới giết được con mập trắng quái ác, trả thù cho cha em, làm được điều đó anh mới xứng đáng là chồng của đời em.


- Được. Anh sẽ làm được điều đó, anh thề.


Nhụ đang cố thực hiện lời thề với tất cả lòng nhiệt tình, sự can đảm, tài trí và cả sự liều lĩnh cần thiết trước đối thủ mà bất cứ một người đi biển nào cũng phải gờm sợ. Gờm sợ hơn là giữa lúc giáp mặt với con mập, biển cả đã nổi sóng, giông tố đã ập đến như bao vây anh, ủng hộ đối phương. Kìa, đôi mập đã áp sát đáy thuyền và có thể nó sẽ lật tung con thuyền lên cao để cho mạn thuyền lộn nhào như chúng đã từng làm đối với những người đi biển. Nhưng Nhụ vẫn bình tĩnh thả câu, con mồi của anh ngúng nguẩy mấy cái rồi bơi ra xa. Quả nhiên, con mập cái đã bị cuốn hút theo con mồi, nó rẽ ngang, tiến về phía con đuối đang lượn lờ trước mũi nó. Nhưng con mập đực gần như không chú ý đến con mập cái, có thể nó cho rằng chỉ cần mình nó là cũng đủ sức làm đắm được thuyền Nhụ. Nhất là khi nó chợt nhìn thấy mũi lao của Nhụ soi sáng. Nhưng nó vẫn ngang nhiên lướt tới. Nó lướt tới một cách ngạo nghễ, làm như thể tất cả những đối thủ mà nó giáp mặt trên biển đều trở thành tất khả kháng cự. Đợi cho con mập đực tới gần, Nhụ lao mũi lao hướng thẳng vào đầu nó. "Ầm, ầm" đột nhiên bất thình lình, ba ngọn sóng như ba ngọn núi dâng cao rồi đổ ập xuống mạn thuyền. Đôi chân Nhụ loạng choạng, anh chỉ còn kịp nghe tiếng "rẹt" của mũi lao thọc vào lòng biển khi mà con mập đã lẫn vào đám bọt sóng. Phải một lúc lâu, khi anh cố giữ chắc tay lái cho con thuyền khỏi chìm, khi những đợt sóng sau đó đã lặn dần, khi gió đã yếu đi và mưa đã tạnh hẳn. Nhụ kéo lưỡi câu về và nhận thấy rằng con mập cái đã liếm trơn con đuối chỉ để lại bộ xương cứng lạnh, giống như đứa trẻ đã mút sạch que kem một cách ngon lành. Bấy giờ đêm đang chuyển dần về sáng. Khi biển đã trở lại bình yên, anh đã nhìn thấy ngọn lao của mình nằm sóng soài dưới đáy biển, bóng của ngọn lao hắt lên một vệt lân tinh sáng rực. Bầu trời sau đêm mưa trở nên thăm thẳm, mát lạnh. Những ngôi sao lung linh soi sáng xuống mặt biển yên ả. Trăng tuần hạ chiếu trong không gian một thứ ánh sáng huyền ảo. Sóng lượn đều từng lớp, từng lớp làm cho đại dương đang trở thành một tấm nhung đen dát đầy kim tuyến.


Nhụ biết rằng đôi mập vẫn còn quẩn quanh đâu đây, và trận chiến đấu có thể sắp tái diễn. Trong đầu anh ý chí quyết thắng vẫn còn nóng hổi. Anh cởi quần áo, nhào ngay xuống biển. Sau một hơi lặn dài, anh lại nắm chặt ngọn lao nhọn hoắt. Lúc anh bơi trở về thuyền, anh nhìn thấy lòng biển bỗng nhiên rực rỡ như anh đang đi lạc giữa rừng hoa. Một loài cá đã xuất hiện, từng đàn, từng đàn một, chúng tí tởn như đi dạ hội. Và, kia rồi, đôi cá mập vẫn đi giữa, chúng đi sánh đôi một cách hào hứng như thể thế giới này chỉ chúng mới có quyền như thế. Nhất là khi Nhụ nhìn thấy con mập cái đội mớ rêu mỏng trên đầu như chiếc khăn voan. "Ái chà chà, chúng mày cưới nhau. Đúng là đám cưới cá mập". Nhụ bất chợt nhận ra sự kiện long trọng này. Người Nhụ ngứa ngáy anh nhoài chân đạp mạnh trên mặt nước, phút chốc Nhụ đã đứng trên sạp thuyền, Giờ thì anh đã nhìn thấy tất cả. Đám cưới cá mập với sự hoan hỉ của mọi loài cá; cá mòi re ré ngọn sóng, cá thu nhẩy cẫng lên, cá dưa ngúng nguẩy bên nhau, cá chim vòng vòng chao lượn... Đột nhiên, con mập cái sán vào con mập đực, hai con vờn lấy nhau, hai cái đầu lù lù rúc rúc và, chúng bỗng quay chéo mình lại, lưỡi con mập đực thè ra liếm vào háng con mập cái. Con mập cái cũng há mồm ngậm chặt "cái ấy" của con mập đực. "Ối trời ơi chúng mày làm gì thế này, đồ mất dạy, đồ thú vật hoang dã". Nhụ buột miệng chửi rủa. Nhưng tất cả các loài cá đang đi bên đôi mập lại rộ lên "ọt" "ọt" như những tiếng cười. Và rồi như bừng bừng phấn kích, lan truyền, cá mòi đè cá mòi, cá thu chờm bụng cá thu, cá hố quấn vào nhau như bện thừng. Nhất là cá heo, con đực áp bụng vào con cái như muốn dính chặt làm một. Trong lúc đó hai con mập vẫn say sưa mút cho nhau, mút vào cái chỗ mà đám bạn gái của Nhụ phải che ba lần vải. Nhìn cảnh tượng ấy, người Nhụ bỗng chốc như sôi lên. Anh hướng ngọn lao về phía lưng con mập đực "phóc", "ào", Nhụ nhoài người xuống biển. Bọt nước sủi tăm "phập" thế là xong. Một luồng nước đỏ thẫm loang giữa sóng biển. Những người quay ngoắt lại, anh bơi nhanh về thuyền. "Thế là gọn - Nhụ nghĩ - Vì cá mập đang có giá, đủ sức trang trải cả tiền cheo tiền cưới. Còn thịt cá mập cả làng nướng lên uống rượu thoải mái". Nhụ vừa nghĩ, vừa cười lên sảng khoái. Chỉ một lát sau anh đã bơi về mạn thuyền. Bỗng "roạt", "roạt". Nhụ quay người lại, anh nhận ra con mập cái đã đến bên anh lúc nào mà anh không biết. Và người anh như lịm đi, anh cảm thấy đau suốt phần bụng dưới. Con mập cái nhìn anh như bĩu môi cười khẩy rồi lặn hút. Lúc lên thuyền, anh cúi xuống và nhìn thấy chỗ da sần sùi giữa háng mình bị liếm mất, máu đỏ rơm rớm chảy.


Mấy hôm sau, đám cưới của Nhụ và Mòi được tổ chức. Thật là một đám cưới linh đình. Cả làng đi dự. Lần đầu tiên, nhiều người được nhắm rượu với thịt cá mập khô nướng với than hồng, còn bộ vi của nó, như ta biết, nó là cả một tài sản.


Nhưng cũng chính cái đêm làm lễ thành hôn, đêm ái ân đầu tiên của cặp vợ chồng trẻ. Vào lúc gần sáng, khi bình minh chưa kịp nhô lên khỏi mặt biển. Mòi bỗng nhiên chạy ra bờ biển. Cô lẫm lũi đi trên cát, tóc xoã rối tinh. Rồi cô chạy, cô chạy dọc những sóng đang quăng mình vật vã vào bờ cát. Thỉnh thoảng cô cúi xuống xoè hai bàn tay trắng mịn vớt lên những quả bọt nước biển cứ phồng lên rồi lại tan biến đi. Có lúc cô ngồi thụp xuống cát, ngước ra mờ khơi, mặc cho hai giọt nước mắt lăn trên gò má.

2711




Một thương gia đi công tác xa 2 tuần. Sau một tuần, ông gọi điện về nhà hỏi thăm tin tức. Người quản gia ấp úng mãi không thành câu nhưng bị gặng mãi nên ông ta cũng đành nói thật.

- Xin lỗi ông, nhưng chó của ông chết rồi.

- Chó của tôi! Làm sao lại có chuyện đó?

- Bác sĩ nói là nó bị rối loạn tiêu hoá nặng do ăn quá nhiều.

- Ăn quá nhiều ư?? Nhưng ông luôn cho nó ăn theo khẩu phần khoa học cơ mà?

- Vâng, nhưng vì con ngựa đã chết, nên có một lần nó tự mò đến cái máng ăn của ngựa.

- Con ngựa chết rồi!??

- Vâng, đấy là do chuồng ngựa bị cháy nên nó bị...

- Cái gì, làm sao chuồng ngựa lại bị cháy?

- Lính cứu hoả nói là vụ nổ biệt thự đã ảnh hưởng đến chuồng ngựa quá nặng. - Viên quản gia nghẹn giọng.

- Nổ biệt thự?! - Thương gia không tin vào tai mình nữa.

- Vâng, người ta nói là do gas. Gas bị xì, mà nến thắp quan tài mẹ ngài lại để gần ri đô quá, nên bị bắt lửa...

- Nhắc lại đi. Mẹ tôi... Mẹ tôi... làm sao? - Thương gia hổn hển.

- Vâng, mẹ ngài mất do nhồi máu cơ tim. Bà ấy ko chịu được cú sốc khi biết vợ ngài đã bỏ đi theo em trai ngài.

1015




Một lữ khách đi ngựa đến một dòng sông xa lạ. Ông ta hỏi một thiếu niên xem dòng sông ấy có sâu không.

- Không đâu - Chú bé đáp.

Và người kỵ mã bắt đầu vượt sông. Nhưng ngay sau đó ông ta nhận ra cả người lẫn ngựa đều phải bơi trối chết.

Khi người lữ khách đã tới bờ bên kia, ông quay lại hét lên:

- Tao cứ tưởng mày nói là sông không sâu.

- Đúng thế mà - Chú bé đáp - Nước sông này chỉ ngập ngang bụng lũ vịt của cháu thôi.

906





Một thầy đề chẳng biết làm sao bị vợ cào cấu sứt cả mặt. Khi đến công đường, quan huyện thấy, mới hỏi:


- Sao mặt thầy lại xây xát ra thế kia?


Thầy đề thưa:


- Bẩm chiều hôm qua, con ngồi chơi hóng mát, cái giàn hoa lý nó dổ xuống, xuýt nữa thì khốn!


Quan không tin, hỏi lại:


- Thầy dối tôi. Chắc hôm qua vợ thầy lại cào cho thầy đấy chứ gì? Thầy cứ nói thật đi rồi tôi sai mấy tên lính lệ lôi cổ ra đây trị thẳng tay. Nếu không thì được đằng chân lấn đằng đầu cho mà xem!


Quan bà đứng trong tư thất, nghe quan ông nói vậy, giận lắm, hầm hầm bước ra. Quan ông thấy bóng quan bà, líu cả lưỡi, bảo thầy đề:


- Thôi... thôi... thầy tạm lui. Giàn hoa lý nhà tôi cũng sắp đổ!

860




Bố là dân điện ảnh đưa con trai nhỏ đi xem bóng đá. Người cha vui vẻ giảng giải cho con:
- Trong bóng đá, con có thể coi khán giả là người xem phim, huấn luyện viên là đạo diễn, còn các cầu thủ là diễn viên.
- Thế ai là người viết kịch bản hả bố?
- Ừm... là giới cá cược con ạ!

2242




Có lần Xô-Fốc ( Sophocle ), nhà soạn kịch vĩ đại Hy Lạp xưa ( 496 - 406 trước công nguyên ) nói rằng để viết nên ba câu thơ ông phải mất 3 ngày lao động.

-Ba ngày cơ à! _ một nhà thơ hạng trung bình nghe thấy thế, ngạc nhiên hỏi_ cứ như tôi đây, cứ 3 ngày tôi có thể làm tối thiểu 100 câu thơ!

-Vâng, đúng thế _ Xô-Fốc trả lời_ nhưng anh bạn trẻ ạ, 100 câu thơ ấy chắc chỉ sống được ba ngày!2479




Trong một nghĩa trang, người ta nhìn thấy 3 ngôi mộ gần nhau. Ngôi thứ nhất ghi: “Đây là mộ của cô Răng trắng vì cô dùng sản phẩm thuốc đánh răng của hãng X”. Ngôi thứ hai ghi: “Đây là mộ của ông Mặt sạch vì ông dùng dao cạo râu của hãng Y”.


Ngôi mộ thứ ba ghi: “Đây là mộ của Không ai cả, vì cha mẹ họ đã dùng thuốc tránh thai của hãng Z”.

1244




Cái Cười Của Thánh Nhân
Tác giả: Nguyễn Duy Cần

Những Yếu Tố Chính Của U Mặc


U Mặc Và Bất Ngờ

Yếu tố quan trọng nhất của văn u mặc là sự bất ngờ, nghĩa là không thể dự liệu trước được.

Sứ mạng của u mặc không phải là ru ngủ với những tập quán, thành kiến cố hữu của con người, mà cốt là thức tỉnh con người bằng nghịch thuyết, một cách tự nhiên và đầy nhân ái.

Phàm việc gì trên đời, có "cùng" mới có "biến", mà có "biến" mới có "thông" như Dịch Kinh đã dạy. Và sự biến ấy là một sự đột biến do sự tiệm biến lâu ngày... Nhờ vậy mới có chỗ "thông". Thông, tức tiếng cười của ta đó.

Tâm tư con người bị trói buộc trong vòng lễ giáo chật hẹp quá, luật pháp và cấm kỵ bủa giăng, phong tục, tập quán và thàng kiến bao vây nghiêm nhặt quá, cho nên văn chương u mặc mang lại sự cởi mở bất ngờ như ngựa thoát yên cương, mới phát ra được tiếng cười chiến thắng: Cái cười "cởi mở" phá lao lung.

Định nghĩa về "cái cười", Marcel Pagnol, trong thiên tiểu luận "Notes sur le Rire" cũng nhận xét đại khái sau đây:

1. Cười là tiếng ca đắc thắng. Nó là biểu hiện của một sự cao cả tạm thời, đột nhiên bị khám phá ra được nơi người cười đối với người bị chế nhạo.

2. Cười có hai thứ, rất kiên quan mật thiết với nhau như hai đối cực của quả địa cầu. Có cái cười tích cực: Tôi cười vì tôi cao hơn anh, cao hơn tất cả thiên hạ hay cao hơn tôi lúc trước. Lại cũng có cái cười "tiêu cực", cái cười gắt gỏng chua cay, cái cười buồn bã, cười về chỗ thấp kém của kẻ khác, cái cười khinh bạc ngạo nghễ đối với người thất thế, cái cười trả thù và hằn học: Tôi cười, không phải vì tôi đắc thắng vinh quang hơn anh, mà tôi cười sự thất bại tủi nhục của anh.

3. Giữa hai cái cười ấy, còn có một thứ cười toàn diện gồm cả hai thứ cười tích cực và tiêu cực.

Để chứng minh, Pagnol đưa ra một thí dụ điển hình về tiếng cười vang của dân lành thành Paris bị quân Đức chiếm đóng, ngày Lecterc dẫn binh nhập thành. Người dân Pháp cười lăng cười lóc, cười đến nước mắt ràn rụa, vì nước Pháp đã được giải phóng và được hoàøn lại địa vị của mình trước vạn quốc. Họ cười sự chiến thắng của mình, mà cũng cười sự chiến bại của quân địch.

Định nghĩa của M. Pagnol, trên đây kể ra cũng đã khám phá được một phần khá lớn cái mật nhiệm của tiếng cười là giải phóng được tâm tư bị mặc cảm tự ty dồn ép đến tận cùng.

Bergson cũng định nghĩa tiếng cười cách khác: Hài hước là đem "hình thức máy móc mà trồng lên sự sống" (du mécanique plaqué sur du vivant). Thuyết ấy khá hay. Nó cũng không nghịch với Pagnol, mà còn chứng minh một cách rõ ràng hơn là khác.

Thật vậy, những cử động của thân thể con người mà gợi cười là khi nào nó không cử động được một cách tự nhiên nữa, mà chỉ hoạt động một cách máy móc, như những hình nộm bị giật dây. Cái khía cạnh đạo mạo và long trọng của đời sống xã hội hằng ngày luôn luôn có ẩn bên trong một cái gì lố bịch, hài hước. Một cuộc lễ trao giải thưởng, một phiên tòa án thường dễ trở thành hài hước khi mà người ta đã quên phần chính mà chỉ chú trọng đến những phần phụ thuộc, những hành động máy móc hình thức. Những sự méo mó của nghề nghiệp thường làm cho ta tức cười, những trường hợp các nhân viên nha quan thuế, sau khi lội xuống biển cứu xong những kẻ bị đắm tàu, quen miệng hỏi: "Các anh không còn gì khai nữa chăng?"

Bất cứ một cá nhân nào hành động như cái máy ở trước mặt ta, phải chăng tự họ đã tỏ ra thấp kém hơn ta nhiều, còn ta đã trở thành một tâm hồn tự do không bị xã hội biến thành một dụng cụ vô hồn.

Cũng nên nói qua về một công dụng khác của văn chương trào lộng: "nói tục". Tục... mà thanh. Cái đó mới khó.

Cái mà xã hội gọi là phạm đến" thuần phong mỹ tục" phải chăng thực sự là những tội lỗi mà ở trong xã hội tự nhiên không có gì gọi là tội lỗi cả! Đó là những thỏa mãn, tự nhiên của con người, nếu bị cấm đoán sẽ bị dồn ép. Ở những xã hội tự nhiên, các sự thỏa mãn nhu cầu tự nhiên không thấy gì đáng cười cả, trái lại, ở những xã hội văn minh giả tạo, thì đó là những câu chuyện buồn cười! Nhà văn Lâm Ngữ Đường cho rằng: "Kẻ giỏi về hoạt kê, là kẻ nói lên được những cái hợp tình hợp lý ngoài dự liệu của mọi người. Và nó sẽ là những lời của kẻ khác không dám nói (...). Do đó, hoạt kê đổi sang "nói tục", vì "nói tục" cũng có tác dụng buôn thả cởi mở sự bị ức chế trong tâm tư. Và trong hoàn cảnh tương đương như vậy, lời "nói tục" cũng hợp với tinh thần khang kiện (...). Bởi vậy ta thường thấy nhiều ông bà thời thường hết sực đoan trang đạo mạo, khi nóng giận bực tức việc chi, hay "văng tục" khinh khủng!

Ngày xưa, bên Trung Hoa, Thuần Vu Khôn đáp lời của Tề Uy Vương: "Hạ thần uống một đấu cũng say, mà uống một thạch cũng say!"

Uy Vương hỏi:

- Uống một đấu cũng đã say rồi, thì làmsao uống được một thạch?

Thuần Vu Khôn đáp:

- Khi hầu cận bên hoàng thượng, thì chỉ uống một hai đấu là đã say nhừ rồi! Nhưng, nếu khi ngồi lộn xộn với đám trai gái, nắm lấy tay không phạt, liếc mắt không cấm, trước rời hoa tai sau lỏng cài trâm... thì có thể uống tới tám đấu mới chịu say. Cũng như khi trời chiều rượu cạn, cùng tôn kính nhau mà ngồi sát bên nhau, trai gái đồng tịch, giày dép lộn xộn ngổn ngang, trên nhà nến tắt, chủ nhân giữ Khôn lại và màn mở tung ra, nghe hơi hương nồng thắm, trong lúc ấy Khôn quá vui thích, có thể uống cả một thạch!

Trương Vương vẽ mày cho vợ, bị nhà vua cật vấn, trả lời: "Trong khoảng buồng the, việc vợ chồng há chỉ có vẽ chân mày mà thôi đâu!" Đó là hoạt kê, khiến người ta cười, nhất là khi có sự cấm kỵ không nên nghe, mà lại nói ra được một câu hợp tình hợp lý không chối cãi.

Tương truyền có một người đến hỏi một đạo sĩ về thuật trường sinh bất lão. Đạo sĩ bảo phải tiết dục, ăn sương nằm gió, xa lánh đàn bà, cấm ăn cao lương mỹ vị... thì mới có thể trường sinh.

Người ấy nói:

- Như thế thọ đến nghìn năm cũng chả có ích gì! Thà chết yểu còn hơn!

Cái cười như đã định trước đây, là do sự khác biệt về địa vị, về giai cấp sang hèn trong xã hội.

Những rủi ro bất ngờ xảy ra cho những kẻ có một địa vị cao c547


Powered by Blogger.