Ông bố vừa đi làm về đã nghe cậu con trai nũng nịu:
- Bố ơi, hôm nay có bác Cao bạn của bố đến chơi. Con ghét bác ấy lắm!
- Sao con lại ghét bác ấy?
- Vì con bĩnh ra quần, bác ấy không thay cho con mà mẹ không bĩnh ra quần thì bác ấy lại thay quần cho mẹ.
- ????
1346
Một thiếu nữ lần đầu tiên về vùng nông thôn chơi, thấy cái gì cũng lạ lùng, thích thú và luôn miệng hỏi một chàng trai làng là bạn mới của cô. Thấy một con vật đang ăn cỏ, cô ngạc nhiên hỏi:
Sao con bò này lại không có sừng vậy ạ?
Vì nó là con ngựa!
Chàng trai trả lời.
2862
Một bà mẹ có một số quan niệm cổ hủ về hôn nhân và bà truyền dạy cho con gái:
Đừng bao giờ để chồng con nhìn thấy con hoàn toàn khỏa thân.
Bà khuyên.
Bao giờ con cũng phải mang một thứ gì đó trên người.
Vâng thưa mẹ.
Cô gái vâng lời đáp.
Sau khi cưới hai tuần, cô gái cùng chồng sắp sửa lên giường thì anh chồng hỏi:
Em thân yêu, trong gia đình em có ai mắc bệnh tâm thần không đấy?
Theo em biết thì không.
Cô gái trả lời:
Tại sao anh lại hỏi thế?
Có đấy!
Anh chồng nói.
Chúng mình cưới đã được hai tuần lễ vậy mà
đ
êm nào em cũng đội cái mũ tồi tệ ấy lúc nằm trên giường.
2803
Cô con gái của một cựu tổng thống chạy xe quá tốc độ và bị cảnh sát bắt lại. Cô ta vênh mặt hỏi người cảnh sát:
- Này, thế anh có biết cha tôi là ai không?
- Ồ! Tôi không thể giúp gì cho cô được, sao cô không thử hỏi mẹ cô xem?
2326
Một sĩ quan giảng bài hỏi một tân binh trong giờ lên lớp:
- Giả như anh đang ở trên xe buýt mà gặp một sĩ quan vừa lên xe thì anh làm gì?
- Tôi sẽ lập tức nhảy xuống khỏi xe ạ!
Trung úy ra lệnh:
- Toàn trung đội, đằng sau... Binh nhì Smith, tại sao không đợi tôi...?
- Thưa trung úy, chỉ cần chỉ huy nói nửa lời, tôi đã hiểu ngay rồi!
Sĩ quan:
- Ai đi bới khoai tây thì lên xe.
Chỉ có hai hạ sĩ trèo lên. Sĩ quan nói tiếp:
- Còn tất cả sẽ đi bộ.1988
Quan tuần rậm râu, ngồi ăn cơm với quan án không râu. Có hạt cơm dính vào râu quan tuần, anh lính hầu quan tuần vội bẩm: - Bẩm cụ lớn, trong bộ râu cụ lớn có hòn ngọc minh châu. Quan tuần thủng thẳng vuổt râu để cho hạt cơm rơi xuống. Quan án về nhà, bảo anh lính hầu mình: - Ðấy mày xem! Lính bên quan tuần khôn ngoan thế đây! Giá mày học được như nó thì có phải tao cũng được mát mặt không? Cách mấy hôm sau, quan tuần sang quan án ăn cơm. Có sợi bún dính ở mép quan án, anh lính hầu quan ăn trông thấy vội bẩm: - Bẩm cụ lớn, trên mép cụ lớn có con giun đất đấy ạ!
Tác giả: Nguyễn Duy Cần
Mù Rờ Voi
Xưa kia có một ông vua ngồi buồn, cho bắt tất cả người mù trong thành đem về hợp lại một chỗ.
Vua cho đem ra một con voi, bảo các anh mù rờ vào, và tả lại cho nghe họ đã hình dung con voi ra sao?
Sau khi mọi người đã rờ xong, vua kêu hỏi từng người. Họ thưa:
- Voi giống như cái nồi lớn! (Đó là những người rờ trúng cái đầu)
- Voi giống như cây cột tròn! (Đó là những người rờ trúng cái chân)
- Voi giống cái chổi! (Đó là những người rờ trúng cái đuôi)
...Mỗi người đều tưởng rằng mình đã hình dung rõ con voi với những bộ phận mà họ đã rờ trúng. Rồi thì không một ai chịu nhận của ai cả, đều cho cái thị kiến của mình là đúng. Ban đầu còn cãi nhau, sau chửi nhau om sòm, và rốt cùng xăn tay đánh nhau tơi bời...
Nhà vua thấy vậy ôm bụng cười vang.
Lời bàn:
Quả đây là một bức trang hí họa tài tình, vì nó thu hẹp được một cách đầy đủ cả một tấn bi hài kịch của nhân loại từ xưa đến nay549
Câu 1: Đi chơi đâu? (5 điểm). Câu 2: Bể lốp xe nào? (95 điểm).
Bốn sinh viên nọ đi Vũng Tàu chơi và dự định trở về vào chiều chủ nhật để học bài cho buổi thi sáng hôm sau. Do ham vui, trưa thứ hai họ mới về đến nơi và đành phải nói dối giáo sư rằng, xe bị nổ lốp trên đường nên họ đã bị trễ buổi thi, xin thầy cho thi lại. Giáo sư ngẫm nghĩ một chút rồi đồng ý. Bốn anh chàng nhẹ nhõm ra về và tối hôm đó ra sức học thật khuya. Hôm sau, đến giờ thi giáo sư cho họ ngồi riêng mỗi người một phòng. Đề thi chỉ có 2 câu hỏi:
Tôi được biết vợ chồng người ấy cũng là nhờ ở một sự ngẫu nhiên: họ dùng cửa nhà tôi làm nơi hội họp.
Hồi đó, tôi ở Ninh Giang, một phủ lỵ khá lớn. Một bến tàu thủy khá sầm uất trên con sông Chanh, cách tiêu khiển của tôi là chiều tôi ra bờ sông xem tàu tới, tàu đi, giữa một cảnh náo nhiệt và những tiếng ồn ào gào thét của bọn bán bánh giò và bọn mời khách trọ, với những lời đe dọa hách dịch của mấy chú tuần canh, lính thương chính đến hỏi thẻ và khám soát hành lý.
Nhưng từ ngày tôi để ý đến vợ chồng người mù, thì ở Ninh Giang, đối với tôi, không còn sự tiêu khiển nào thú hơn là được ngắm đôi uyên ương ấy chuyện trò với nhau: một cảnh tượng cảm động, thân mật và rất nên thơ.
Tôi không rõ cửa nhà tôi được họ chọn làm nơi hò hẹn từ bao giờ, và vì sao họ lại chọn cửa nhà tôi. Nhưng một buổi sáng mùa đông dậy sớm, ra hiên gác tì tay lan can nhìn xuống, tôi thấy hai bóng đen đen đang đứng trên hè đường, dưới làn mưa phùn giá rét. Một lát sau, người đàn ông bảo người đàn bà:
- Mười hai giờ bà chờ tôi ở đây nhé!
Lời nói dõng dạc trang nghiêm như giọng hạng người sống trong những xã hội cao quý. Rồi mỗi người đi một ngả. Văng vẳng tôi nghe rao câu rất quen tai:
- Ai muối mua!
Và tôi nhớ ngay ra ông lão bán muối mà tôi vẫn thường gặp lang thang trong các phố.
Mười hai giờ trưa khi chuyến ô-tô hàng chạy Hải Dương bắt đầu mở máy, quả nhiên một người đàn bà già và mù, áo xống gọn gàng và sạch sẽ, tay cầm cái rá, rờ lần các cửa xe, rời rạc xin tiền.
Tôi nghĩ thầm: “Không phải ăn mày lành nghề”.
Xe đi khỏi thì người bán muối buổi sáng cũng vừa đến nơi. Và tôi hiểu vì sao họ chọn giờ ấy làm giờ họp mặt: giờ ô-tô.
Luôn một tuần lư như thế, hôm nào cũng đủ sáu giờ sáng và mười hai giờ trưa là hai vợ chồng người mù tới cửa nhà tôi đứng nói chuyện. Họ không hề sai hẹn. Và tôi tò mò lưu ý đến họ, để tai lắng nghe những câu chuyện của họ, vì họ nói rất to, như chẳng cần gì ai, hơn nữa, như coi nơi hè đường là chốn phòng riêng của họ.
Họ có nhà riêng hay không, và nếu có thì nhà riêng họ ở đâu, tôi không rõ. Nhưng nghe chuyện họ, tôi biết rằng gia đình họ chỉ có hai vợ chồng: chồng làm nghề bán muối, vợ theo nghề ăn xin.
Gặp nhau, họ vui vẻ mỉm cười hỏi thăm tin tức nhau như hai người bạn thân xa vắng lâu ngày, và mong nhớ nhau từng phút từng giây. Lần nào người chồng cũng bắt đầu:
- Bà đấy à? Thế nào, bà làm ăn có khá không?
Người vợ trả lời chẳng qua mấy câu này: “Cũng khá ông ạ” hay “Hôm nay làm ăn chẳng ra gì”.
Rồi bà lão ngồi thuật cho chồng nghe hệt những việc đã xảy ra trong mấy giờ đồng hồ đi “làm ăn”. Bà ta kể chuyện rất vui vẻ, thỉnh thoảng lại chêm một câu bình phẩm, một câu khôi hài, khiến người chồng khúc khích cười, chừng cốt để làm đẹp lòng vợ.
- Ông ạ, con mẹ Phúc Hòa Ðường nó lại nhiếc tôi sao không kiếm việc mà làm, đi ăn mày thế này không biết nhục à?
- Con mẹ Phúc Hòa Ðường ở phố Ninh Lãng có phải không bà?
- Phải đấy ông ạ. Nó thử mù như tôi xem ông nhỉ?
- Thế nó có cho bà đồng nào không?
- Nó cho mà nó nhiếc thì đã cam.
- Nó giàu nhất phố đấy, bà ạ.
- Giàu thế thì giàu làm gì? Giàu mà không biết thương kẻ đói khó, mù lòa. Cũng chả bền được đâu, ông nhỉ?
- Phải, bền thế nào được.
- Giá giời cho vợ chồng mình giàu như họ thì mình ăn ở ra người giàu, có phải không ông?
- Phải, mình để của làm gì? Ðể của cho con nó phá nhé? Bà có biết không, thằng con nhà ấy nó phá chẳng mấy nỗi mà hết cơ nghiệp. Thôi thì đủ, bà ạ, cờ bạc, bợm đĩ, hút sách.
- Thế à ông?
Câu chuyện cứ thế kéo dài, âu yếm như chuyện hai vợ chồng trẻ, đứng đắn như chuyện hai người có giáo dục, một điều ông ạ, hai điều bà nhỉ, và có tính cách thông tin tức như một tờ báo hàng ngày.
- Ông ạ, tôi nghe người nhà bà thông Ðoan nói chuyện xe Ninh Thái bị bắt thuốc phiện, đâu những bốn, năm cân nữa. Chắc bị phạt khá tiền đấy nhỉ? Hay đi đêm, thế nào chả có ngày gặp ma ông nhỉ?
Tiếp chuyện bắt thuốc phiện, bà lão kể đến chuyện gia đình nhà ông đội Nhất: Vợ chồng ông đội chẳng ngày nào là không cãi nhau. Bà lão nhắc lại từng câu mắng nhiếc chửi rủa tục tằn của hai người, rồi bình phẩm:
- Cứ nghèo như vợ chồng mình lại êm thấm, nhỉ ông nhỉ?
Ông lão bán muối cười rất có duyên, và có vẻ tự phụ nữa.
Hôm nào người vợ phàn nàn không xin được một trinh nhỏ, thì người chồng tìm hết lời an ủi:
- Thôi, bà ạ, cần gì. Hôm nay tôi làm ăn nhờ giời khá lắm. Chúng mình chỉ mong kiếm đủ ăn, chứ có cần để dành tiền như họ đâu. Vậy bà về nhà mà nghỉ nhá. Tôi đã đong một hào gạo, mua một xu rau muống, một xu tương rồi đấy. Bà về thổi cơm, tôi bán hết chỗ này cũng về ngay đây.
Họ từ biệt nhau, cho tới sáu giờ sáng hôm sau lại vui mừng cùng nhau nói chuyện.
Nửa năm ròng, tôi tò mò đi sâu mãi vào cái đời đường hoàng và thân mật của cặp vợ chống khốn khó.
Có hôm tôi đã cố theo họ xem họ trú ngụ nơi đâu, nhưng họ như đôi chuồn chuồn sống nhởn nhơ không tổ trên mặt nước ao tù.
--------------------------------------------------------------------------------
Một dạo tôi thấy vắng bóng đôi uyên ương già ở trước cửa nhà tôi. Tôi đoán chừng họ đã chọn một phố khác yên tĩnh hơn làm nơi góp chuyện hàng ngày.
Nhưng một buổi chiều đi chơi mát, tôi rẽ vào xem đền Chanh thì gặp ông lão lòa đương lom khom quét lá khô ở sân. Tôi vui mừng hỏi:
- Kìa ông bán muối. Hàng họ có khá không? Sao độ rầy tôi không gặp ông?
Người kia đứng thẳng lên, hấp háy cố nhìn tôi bằng cặp mắt gần tàn ánh sáng như ngọn đèn cạn dầu bập bùng chực tắt. Tôi hỏi luôn:
- Còn bà lão, vợ ông, lâu nay đi đâu?
Hai hàng lệ chảy giàn giụa trên đôi gò má răn reo.
Tôi hiểu ngay rằng ông lão già khốn nạn đương mang nặng trong lòng một nỗi thống khổ lớn lao.
Và tôi nghĩ ngay đến sự tử biệt...
- Ông buồn lắm phải không?
-Vâng, tôi không thiết sống nữa, thầy ạ. Bà lão nhà tôi, bà ấy bỏ tôi bà ấy đi rồi...
Tôi kinh ngạc:
- Bà ấy bỏ ông?
- Vâng, bà ấy chết rồi, còn đâu!
Người ấy cúi xuống quét sân, nói tiếp:
- Hơn bốn mươi năm giời ăn ở với nhau, chả có điều tiếng gì... bây giờ bà ấy bỏ bà ấy đi một mình.
Lúc từ biệt, tôi đãi ông lão khổ sở một hào nhưng ông ta lắc đầu xua tay:
- Tôi lấy tiền làm gì nữa. Ngày có vợ có chồng, tôi mới phải vất vả làm ăn. Chứ bây giờ còn một thân một mình, thì tôi chỉ nhờ cửa thánh ngày hai bữa cơm thừa canh cặn đủ no... để chờ ngày được gặp mặt bà lão tôi ở nơi suối vàng.
Dù cảm động đến đâu tôi cũng không thể giấu nổi cái mỉm cười: tôi nhận thấy ngôn ngữ ông lão bán muối vẫn còn đứng đắn và kiểu cách như xưa, khi ngồi trò chuyện với người vợ mù ở trước cửa nhà tôi
Cảm ơn cơn gió vô tình
Mang bài thơ đến kề bên chân nàng
Lạy trờị.. khoang !... chớ vội vàng...
Tôi đi xạ. hãy khẽ khàng nhặt lên
Xin em hãy đọc thật êm
Lời thơ tôi mỏng như viền áo ai
Xin em đừng nhếch môi cười
Thơ tôi đổ mặt ngượng hoài hôm saụ..
Xin em đừng quẳng đi mau
Thơ tôi chắc sẽ đau sầu lặng thinh
Cảm ơn cơn gió vô tình
Giúp tôi khỏi đứng một mình... trước em !
Một chủ trại có mười người làm công trong nông trại, bởi vì không có người nào năng nổ được như ông ta tưởng, ông bèn nảy ra một kế mà ông tin là sẽ trị cho họ bỏ tật lười biếng. Một hôm, ông bảo:
- Các anh này, tôi có việc dễ dàng, thoải mái cho người nào lười biếng nhất nông trại này. Một người nào lười nhất bước ra phía trước?
Ngay tức khắc chín người trong bọn cùng bước lên.
- Tại sao anh không bước ra phía trước cùng những người khác? - Ông chủ trại hỏi người còn lại.
Người này đáp:
- Mất công quá!