Bà vợ nổi tiếng hay chì chiết chồng, sau khi xỉ vả thịnh nộ hơn một tiếng đồng hồ, nhìn thấy chồng vẫn im lặng bèn hạ câu cuối cùng:
Ông muốn tôi câm điếc cho vừa lòng hả!
Ông chồng lơ đễnh nhổ râu, thủng thẳng đáp:
Tôi đâu dám mơ ước được cả một lúc hai phép lạ ấy!
2840
Một anh chàng đi ngang một nhà nọ thấy có cô gái xinh đẹp đang bế trong lòng một con chó Nhật và tỏ ra rất âu yếm nâng niu con chó. Chàng liền nói to:
Ôi ước gì mình là con chó Nhật ấy.
Cô gái thản nhiên nói:
Vậy thì... Sủa đi!
2809
Chàng thanh niên dáng vẻ buồn bã thất vọng, đứng trên thành cầu đăm đăm nhìn xuống dòng nước xoáy cuộn. Sau lưng anh ta, một phóng viên bồn chồn đi lại với chiếc máy ảnh trong tay. Cuối cùng, tay nhà báo sốt ruột xem đồng hồ rồi chạy lên nói với anh chàng chán đời kia:
- Này anh bạn, quyết định rồi thì nhảy sớm đi, chỉ còn có 3 phút nữa thôi đấy!
- Đối với tôi thời gian đâu có ý nghĩa gì?
- Nhưng chậm hơn thì anh sẽ không kịp lọt vào báo Tin tức buổi chiều đâu!
1746
Buổi sáng, bà mẹ gọi con trai của mình dậy:
- Dậy đi con, tới lúc phải đến trường rồi.
- Nhưng tại sao con phải tới trường. Con không muốn tới đó đâu.
- Con đưa ra 2 lý do tại sao con không đến trường xem nào?
- Bọn trẻ ghét con và các thày cô giáo cũng ghét con.
- Những lý do ấy không chính đáng chút nào. Dậy ngay đi nào.
- Thế mẹ có thể đưa ra 2 lý do tại sao con phải tới trường không?
- Được thôi. Thứ nhất, con đã 52 tuổi và thứ hai, con là hiệu trưởng.1336
Tâm bình thế giới bình
Ngày xưa ở thành Xá Vệ nước Ấn Ðộ, đức Phật đến giáo hoá độ cho một gia đình kia, hai vợ chồng đều cá tánh tham lam độc ác, không biết tôn trọng đạo đức. Ngài liền hóa một vị đạo nhân, mang bình bát đến khất thực. Lúc ấy người chồng đi vắng, người vợ ở nhà, thấy vị đạo nhân vào liền mắng chửi ầm lên. Vị đạo nhân hiền từ nói:
"Tôi là người tu hành, chỉ xin ăn mà tự sống. Lòng chỉ mong gia chủ cho bát cơm để đỡ lòng, cớ sao lại mắng chửi tôi đủ điều thậm tệ như vậy".
Người vợ tức giận hét ngược lên, thì vừa người chồng về, trong tay sẵn cầm cao dao bén, chẳng nói chẳng rằng, người chồng lặng lẽ xông tới, định chém đạo sĩ. Bỗng một bức thành băng pha lê hiện lên, bao bọc người đạo sĩ, bức thành trong sáng, kiên cố, không có cửa, người chồng đến xô đập, đâm chém đủ cách cũng không sao chuyển được.
Người chồng liền nói: "Ông hãy mở mau cho tôi vào với".
Vị đạo sĩ trả lời: "Ðược, nhưng ông hãy quăng con dao bén đi đã".
Người chồng tự nghĩ: "Mình to lớn như thế này, còn người đạo sĩ bé nhỏ thế kia, mình dùng hai tay không cũng đủ giết chết vị ấy trong giây lát". Nghĩ đoạn, liền quăng con dao bén đi xa, nhưng sao bức thành pha lê vẫn nguyên như củ, người chồng tức giận hét lên:
"Tôi đã quăng con dao bén đi rồi sao ông không chịu mở cửa cho tôi vào".
Vị đạo sĩ đáp: "Không, tôi không có nói ông quăng con dao bén trong tay ông, tôi muốn ông quăng con dao bén trong tâm ông kia mà".
Người chồng giựt mình kinh sợ, nhận thấy vị đạo sĩ thấu hiểu tâm lý thầm kín của mình, nên đã bớt độc ác, cúi đầu lạy tạ, ăn năn hối lỗi. Bức thành pha lê kiên cố ấy bỗng biến mất, vị đạo sĩ hiện thành Ðức Phật, phóng muôn ánh hào quang chói sáng rực rỡ một phương trời, và ngay khi đó Ðức Phật thuyết pháp để hóa độ cho hai vợ chồng người ấy.
Một ngày nọ, thỏ tình cờ vớ được một khẩu súng. Nó thích lắm, xách súng đi tìm các loài thú khác để dọa. Thình lình gặp gấu đang trèo cây, thỏ chĩa súng và hỏi:
- Gấu, mày đang làm trò gì vậy?
- Tao đang lấy mật ong.
- Leo xuống mau! Không tao bắn!
Gấu vốn sợ súng đành loay hoay tụt xuống. Thỏ được thể quát:
- Ngồi vào gốc cây! Không ngồi tao bắn.
Gấu miễn cưỡng ngồi vào gốc cây. Thỏ thích chí quát tiếp:
- Gấu, mày ị đi! Không là tao bắn.
Hết sức giận dữ nhưng không có cách nào thoát, gấu đành cố rặn ra được mấy cục. Thỏ được nước lấn tới nữa:
- Gấu, mày bốc ăn đi!
- Không, tao không ăn.
- Không ăn tao bắn đó!
Đến thế này thì nhục quá. Gấu điên tiết nói liều:
- Thì mày bắn đi! Tao thà chết chứ không ăn!
Thỏ bèn bóp cò, nhưng rủi thay súng không nổ. Thỏ đứng chết trân, sau đó lắp bắp:
- Ông... ông gấu ơi!
- Gì?
- Để .. để đấy con ... con ăn cho.
2684
Có anh nọ đến chơi nhà bạn, bạn dọn cơm đãi, Anh ta ngon miệng, ăn năm sáu bát vẫn thấy thèm. Nhưng xới mãi cũng thấy xấu hổ. Bỗng có người gánh bưởi đi qua cổng, anh ta nẩy ra một kế, bèn nói với bạn: - Bưởi ở đây to quá nhỉ! Ở chỗ tôi ấy à, chỉ to bằng cái bát này thôi! Vừa nói vừa giơ cái bát không lên, cố ý để cho bạn thấy mà xới thêm. Nhưng chết nỗi, trong nồi không còn cơm nữa. Gặp phải anh bạn cũng hóm, biết ý khách, liền mỉm cười, đáp lại rất tự nhiên: - Ấy, năm nay bưởi bé đấy, chứ như mọi năm thì quả nào quả ấy to bằng cái nồi này! Nói rồi, xách cái nồi không, chìa cho bạn xem.
Giữa một đường truông thăm thẳm, vắng vẻ và âm u, không một xóm nhà, ít người qua lại, có một cái am nhỏ . Am ấy mới cất, độ non ba năm thôi . Trong am, chỉ có một sư cụ già, thui thủi một mình, quanh năm chẳng được ai thăm viếng . Trước am, nơi giữa sân, chất sẵn một đống củi, vừa lớn , vừa cao ngất, củi sắp vuông vắn, thẳng thắn, dường như được săn sóc chẳng khác một vườn kiểng do một vị lão trưởng giả chăm nom .
Một hôm, trời đã tối rồi, nhà sư vừa lên đèn được một chặp, thì có hai người khách đến trước ngưỡng cửa, vái mà thưa rằng :
- Bạch sư cụ , nhờ ngọn đèn dắt dẫn, chúng tôi mới dõi đến đây . Mong nhờ sư cụ cho tá túc một đêm, sáng mai chúng tôi sẽ lên đường .
Nhà sư ung dung , chắp tay đáp :
- Mô Phật, cửa thiền bao giờ cũng mở rộng cho người lỡ bước .
Rồi dừng một phút, dường như để trấn tĩnh nỗi vui đương sôi nổi trong lòng, nhà sư tiếp :
- Ngót ba năm nay, tôi mở am nơi này, không được một ai đến viếng . Ngày nay là ngày ước nguyện, may được hai ngài quá bước, ghé nghỉ chân . Âu cũng là duyên trước ....
Nói xong, nhà sư dọn cơm chay cho khách dùng, và câu chuyện không đề, vô tình dẫn khách đến câu hỏi :
- Bạch sư cụ, chẳng hay sư cụ thích tụng kinh nào ?
Vui sướng, vì như gặp bạn tri âm, nhà sư đáp :
- Tôi quy y Phật pháp từ thuở bé, rừng thiền có thể nói rằng đã viếng khắp nơi . Cách ba năm nay, lòng huệ được mở ra .... Và từ ấy, tôi chỉ tụng kinh Di Lặc .
Một người khách hỏi :
- Sư cụ có thể cho tôi biết duyên cớ vì sao chăng ?
- Mô Phật . Chỉ có lời nói mà độ được người, tôi sao dám tiếc lời ? Vậy tôi xin vui lòng nói cho hai ngài rõ . Bởi tôi đọc qua các kinh sách, thấy rằng Phật Thích Ca khi đắc đạo, có dạy : Hai ngàn năm trăm năm về sau, Phật pháp sẽ đến chỗ chi ly, ấy là hồi mạt pháp . Di Lặc sẽ xuống trần mà cứu độ chúng sanh và chỉnh đạo lại . Nay cũng đã gần đến kỳ hạn . Chắc là Phật Di Lặc đã xuống trần mà độ kẻ thành tâm tu hành . Bởi lẽ ấy tôi có nguyện tụng đủ một nghìn lần kinh Di Lặc . Nếu lời nguyện được ỵ, ấy là tôi sẽ đắc đạo .
Người khách thứ hai hỏi :
- Sư cụ đã tụng được bao nhiêu lần rồi ?
- Đã được chín trăm chín mươi chín lần rồi . Bây giờ, chỉ còn lần thứ một nghìn; lần tụng của đêm nay . Chắc hai ngài trước có duyên lành, đêm nay đến mà chứng kiến tôi tụng lần thứ một nghìn ấy ....
Đến đây, bữa cơm chay đã mãn . Khách mệt mỏi, xin ngả lưng . Nhà sư dọn dẹp trong am cho thanh khiết, rồi bước tới trước bàn Phật, khêu bấc đèn dầu, mở kinh ra mà khởi sự tụng . Tiếng tụng kinh chậm rãi, như nện vào không gian . Thỉnh thoảng một tiếng chuông ngân lên, đánh dấu chuỗi tiếng mõ dài đăng đẳng ....
2.
Trước khi nhắm mắt ngủ, hai người khách còn trao đổi vài câu :
- Tội nghiệp thay cho sư cụ già , quá mê tín, mất sáng suốt, mà không giác ngộ . Phật pháp lập ra đã hai nghìn năm trăm năm về trước, tránh sao cho chẳng có chỗ lỗi thời . Nhận thấy chỗ lỗi thời, các môn đệ ắt phải lo tài bồi, phát xiển mối đạo . Thế là có tư tưởng này, học thuyết nọ ;
rồi sanh ra môn ra phái . Ấy là nguồn gốc của sự chi li. Nay rừng thiền đã hơn tám mươi bốn ngàn cội khác nhau, ấy là lẽ dĩ nhiên vậy .
- Tôi cũng đồng ý với anh về chỗ đó , và nghĩ thêm rằng: Nếu bây giờ có một vị Di Lặc xuống trần, thì vị ấy có trọng trách cất nhắc Phật pháp cho kịp với mọi sự tiến hóa của mọi sự việc từ hơn hai nghìn năm nay. Và trách nhiệm của mỗi tín đồ của Phật là dọn mình cho sẵn, để đón rước cái Pháp mới sắp ra đời. Chớ mê mải trong việc gõ mõ tụng kinh, há chẳng phải là phụ lòng mong của Thích Ca chăng?
Lời nói của hai người khách giữa cái am vắng vẻ, không dè có kẻ trộm nghe . Kẻ nghe trộm này là một con thằn lằn, đến ở am khi am vừa mới dựng lên, và đã từng nghe 999 lần kinh, nên có linh giác, nghe được tiếng người, biết suy nghĩ và phán đoán . Câu phê bình của hai người khách đã giúp cho con thằn lằn giác ngộ . Nó vốn biết nguyện vọng của nhà sư: là hễ tụng xong lần thứ một nghìn, thì nhà sư sẽ lên giàn hỏa mà tự thiêu .... Rồi nó nghĩ : nhà sư lòng còn mê tín, chưa được giác, phỏng có thiêu thân, thì làm sao nhập được Niết Bàn? Hay là ta tìm thế ngăn người, đừng để cho người thiêu thân, đợi chừng nào người được giác rồi sẽ hay?
Rồi con thằn lằn quyết định : Phải ngăn ngừa, đừng để nhà sư tụng xong lần thứ một nghìn . Nó nghĩ được một kế: Ấy là bò lên bàn Phật, đến dĩa đèn dầu, rán sức mà uống cạn dĩa dầu . Bấc sẽ lụn, đèn tắt, nhà sư không thấy chữ mà tụng nữa .
Một sức mầu nhiệm đã giúp cho con thằn lằn đạt được ý nguyện: chỉ trong một hơi mà dĩa dầu đã cạn : bộ kinh chỉ tụng được quá nửa mà thôi. Đèn tắt, nhà sư ngạc nhiên, nhưng nghĩ : hai người khách là kẻ phàm tục, không được duyên lành chứng giám việc đắc đạo của mình . Âu là xếp
kinh, nghỉ, chờ ngày mai khách lên đường, sẽ tụng lần thứ một nghìn ấy .
Nhưng, sau đó đêm nào cũng vậy, buổi đọc kinh chưa xong mà đèn lại tắt đi . Nhà sư có lúc tính tụng kinh lần này vào khoảng ban ngày, nhưng nhớ lại khi xưa đã có lời nguyện tụng kinh vào lúc khuya, tĩnh mịch, nên không dám đổi.
Và một đêm kia, dằn lòng không được, tuy tụng kinh mà mắt chốc chốc nhìn lên dĩa dầu để xem sự thể do đâu, nhà sư bắt gặp con thằn lằn kê mỏ mà uống dầu. Nổi giận xung lên, nhà sư dừng gõ mõ, và mắng rằng :
- Loài nghiệt sức! Té ra mi ngăn ngừa không cho ta được đắc đạo!
Rồi tay cầm dùi mõ, nhà sư nhắm ngay đầu con thằn lằn mà đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ đầu, chết ngay. Hôm ấy, nhà sư tụng xong lần kinh, bước lên dàn hỏa, tự châm lửa mà thiêu mình.
3.
Và cũng đêm ấy, hai cái linh hồn được đưa đến trước tòa sen của Phật. Uy nghiêm, ngài gọi nhà sư mà dạy:
- Nhà ngươi theo cửa thiền từ thuở bé, mà chẳng hiểu bài học vỡ lòng của pháp ta là thế nào! Pháp ta đã dạy phải trừ hết dục vọng thì mới đắc đạo, mà ngươi dục vọng lại quá nhiều : bởi việc muốn đắc đạo, để được thành Phật kia cũng là một cái dục vọng . Có dục vọng ấy là Tham ; bởi tham nên giận mắng con thằn lằn, ấy là Sân; bởi sân nên tưởng rằng trừ được con thằn lằn thì tha hồ tụng
kinh, rồi đắc đạo, ấy là Si . Có đủ Tham Sân Si tất phải phạm tội sát sanh, thì dầu ăn chay trường trọn đời, cũng chưa bù được .
Tội ngươi lới lắm, phải rán tu luyện thât nhiều mới mong chuộc được . Vậ y ta truyền cho Kim Cang, La Hán hốt cho hết đống tro do xác ngươi thiêu mà hóa ra, rồi đem tro ấy tung khắp bốn phương trời. Mỗi một hột tro đó sẽ biến sanh thành một người. Chừng nào mọi người ấy đắc đạo, đám chúng sanh ấy sẽ đượ quy nguyên, trở hiệp lại thành một, thì nhà ngươi sẽ đến đây mà thành chánh quả .
Rồi Phật cho gọi hồn con thằn lằn mà dạy :
- Nhà sư chưa được giác mà làm tội, tội ấy đáng giá là một mà thôi . Còn nhà ngươi, được giác một phần rồi, mà làm tội, thì tội đáng kể là mười .
Con thằn lằn lạy mà thưa rằng:
- Bạch Phật tổ, lòng của đệ tử vốn là muốn độ nhà sư, dầu nát thân cũng không tiếc . Chẳng hay đệ tử có tội chi ?
Phật phán :
- Muốn độ người, kể thiếu chi cách, sao ngươi ngăn đón việc tụng kinh của người ? Đã đành rằng việc tụng làm của nhà sư là một việc mê tín, nhưng dầu là mê tín, song vẫn là một tín ngưỡng. Cõi Phật vốn là cõi tự tại. Nếu phạm đến tự do tín ngưỡng, gọi là để dắt người vào, thì làm sao cho được. Bởi ngươi không dùng phương pháp tự do, người là kẻ mất tự do, thì cả hai làm sao được vào cõi tự tại ?
Một lần nữa, con thằn lằn được giác, quì lạy mà xin tội :
- Xin Phật tổ mở lòng từ bi, cho đệ tử hóa sanh một kiếp nữa , để dùng phương pháp tự do mà độ vô số chúng sanh do những hột tro, mà các vị Kim Cang, La Hán vừa tung ra đó .
Phật đáp :
- Ta cho ngươi được toại nguyện .
Hồn con thằn lằn vưà muốn lạy Phật mà đi đầu thai, thì sực nhớ lại, nên bạch rằng :
- Xin Phật tổ dạy đệ tử phải hóa sanh làm kiếp chi ?
Phật đáp :
- Nhà ngươi đã gần bến giác, phải tự mình chọn hình thể mà hóa sanh . Tự do chọn lựa mới có thể luyện mình để bước vào cõi tự tại .
4
Hồn con thằn lằn từ ấy trôi theo mây gió, không biết trụ vào đâu, để có thể vừa dùng phương pháp tự do mà độ người, vừa có thể độ được đông người, số
người đông như số hột tro do một cái xác thiêu ra. Thật
chưa hề có lúc nào có một linh hồng bị trừng phạt phải đau
khổng đến thế .....
Một hôm trong hồi xiêu bạt, hồn con thằn lằn thấy bóng của
một trong hai người khách đã đến am thủơ nọ , mà câu
chuyện nghe lóm đã làm duyên cho mình mấy năm đau khổ .
Thằn lằn vội vã bay theo vái chào và kể nỗi niềm đau đớn
:
- Ngài đã giúp cho tôi giác ngộ được một ít , có hay đâu
tôi phải mang cái nghiệp vô định này . Đã trót làm ơn, xin
độ cho tôi đến bờ bến .
****
Hai ông khách đáp:
- Chúng tôi đâu dám lên mặt thầy đời mà dạy người, huống chi lại dám đèo bồng mang lại một giải pháp cho một vấn đề nan giải. Nhưng đã lỡ gieo trong trí ngươi một ý nghĩ làm cho ngươi phải khổ như bây giờ, thì phải góp ý kiến để cho ngươi suy xét mà gỡ rối. Ấy gọi là chuộc lỗi.
Hồn con thằn lằn gật đầu, cảm ơn trước. Một người khách nói:
- Chúng tôi đây là bọn chơi văn giỡn chữ, quanh năm chỉ lấy việc đem ý hay lời đẹp mà làm cho vui lòng kẻ đọc mình, rồi lấy sự vui của người làm sự sung sướng của mình, cho đó là sự "đắc đạo" của mình. Nếu phải mong muốn điều gì, thì cố gắng trình bày cho bóng bẩy, văn hoa: được thì tốt, bằng không thì thôi, chớ chẳng hề khi nào phạm đến tự do của người ....
Nghe đến đó, thì một điểm linh quang bắt đầu hiện trong trí con thằn lằn. Người khách thứ hai nói tiếp:
- Xưa nay, trong bọn chúng tôi cũng được một vài tay lỗi lạc, kể một chuyện lý thú, hát một bài thơ hay, chuyện ấy thơ này được truyền ở hàng triệu miệng. Vậy, nếu ngươi có lòng muốn độ hằng hà sa số chúng sanh, thì cố gắng trau dồi văn tài cho tương xứng, văn ngươi tung ra là có thể cảm hoá triệu triệu người ....Rồi, cũng phải luyện văn tâm, để cho văn ngươi có thể nhen nhúm được trong lòng mỗi người một điểm lửa thiêng. Lửa bắt cháy, văn của ngươi như dầu rót thêm vào, làm cho ngọn lửa sáng lên ....
Hồn con thằn lằn gật đầu ba cái để tạ ơn và nói rằng:
- Con đường ấy khó đi cho đến hết được, song chắc chă"n là đi cùng đường, ắt có thể đến trước toà sen mà chầu Phật tổ. Vậy tôi xin cố gắng.
(Nguồn: Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta, nhà xuất bản Sóng, Saigon, 1974)
[Sau này tác giả Hồ Hữu Tường viết lại đoạn cuối như sau:]
*****
Người đáp :
- Cái khổ của ngươi là ngươi đã phát tâm cứu độ muôn vàn
chúng sinh do những hạt tro mà đầu thai nên . Tâm ấy là lửa
thiêng . Nó đốt lòng ngươi, cưỡng lại mà cãi, sao cho
được ? Âu là , ngươi nghe theo nó mà hành cái hạnh ấy đi !
- Nhưng mà, làm sao bây giờ ?
- Bấy lâu nay, ngươi đã nghe tụng kinh . Kinh dạy bài học căn
bản là Bi . Ngươi phải có lòng Bi , mà thương muôn vàn hột
tro ấy !
- Tôi vốn thương nhà sư, mới dại dột mà làm cho nhà sư phát
nộ . Thì tôi cũng sẵn lòng thương những ai mà những hạt
tro ấy đầu thai nên .
- Tốt lắm ! Tốt lắm . Đã có Đại Bi, phải thêm có Đại Trí
. Muốn cứu độ muôn vàn hột tro ấy, ngươi hãy lấy Trí mà
tìm biện pháp nào để cứu độ chúng . Chớ tình thương mà
không có thêm phương pháp để thực hiện tình thương ấy,
thì tình thương chỉ là một sự than khóc sướt mướt và vô
bổ mà thôi .
Lời của người làm cho hồn con thằn lằn đại ngộ một lần
nữa . Nó phóng quang mà nhìn khắt trần gian, để kiếm xem
hiện nay, những hạt tro do các vị Kim Cang, La Hán tung rải đang
đầu thai nên gì . Lạ thay, những hạt tro này , bởi tiền
kiếp mắc tội Tham Sân Si nên chẳng được đầu thai làm
người, lại đầu thai là lũ chuột . Chúng không được sống
dưới thanh thiên bạch nhật ; ngày chúng phải chui rúc trong hang
; tối lén bò ra ăn vụng, ăn vặt . Thế mà chẳng được yên
thân, chúng bị một lão mèo to tướng, mắt sáng như sao, nhìn
thấy rõ trong đêm tối, vuốt bén như gươm, tay lẹ như chớp,
thêm thèm thịt chuột ăn bao nhiêu cũng không đã, lão mèo ngày
lừ đừ ngủ, để ban đêm rình chụp chuột mà ăn tươi nuốt
sống . Đời của chuột đã khổ rồi , mà bị lão mèo càng
thêm khổ não, lòng phập phồng lo sợ . Rút vào hang cả ngày
lẫn đêm, thì đói . Ló ra, thì sợ mèo chụp ăn . Hồn con
thằn lằn, thấy chúng chuột như vậy, thương cảm vô cùng .
5
Bỗng nhiên nó thấy lũ chuột tìm chỗ an toàn mà khai đại
hội . Nó bèn vận thần thông nhĩ, mà nghe lũ chuột nói với
nhau những gì . Nó nghe một con chuột cống khởi nói như thế
này :
- Hỡi đồng loại chúng chuột ! Đời của chúng ta khổ não
lắm rồi . Ngày ở hang để tránh người đập giết , tối
mới dám ló ra mà ăn vụng . Thế mà chồng lên cái khổ ấy,
chúng chuột ta còn gặp cái đại họa là lão mèo . Vì lẽ đó
mà tôi triệu tập tất cả lại , để bàn tính coi có cách nào
để thoát cái đại họa ấy chăng ?
Một chuột con, còn hăng tiết, hùng biện hỏi :
- Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết ! Chúng ta phải hiệp
bầy lại , một lượt tiến tới mà cắn mèo . Một mình mèo
làm sao cự lại cả bầy chuột ?
Một chuột già, mình đầy thẹo , kêu chít chít nói :
- Đừng có dại ! Đừng có dại ! Thuở tôi còn trẻ, tôi có nghe
theo luận điệu ấy . Chúng tôi có tổ chứa một bộ đội
chuột , đến mấy trăm con, xông tới mà toan cắn mèo . Thế
mà mèo chỉ quơ tay một cái , là ngủm một chuột . Mấy trăm
con chuột của bộ đội chết sạch . May mà tôi rán được.
đầy mình thương tích, thoát chết chạy về, cả tháng mới
lành . Kinh nghiệm của chuột già này, xin các thanh niên chuột
nên gẫm cho kỹ . Chớ liều lĩnh mà thiệt mạng , lại không có
chút kết quả nào !
Lời của chuột già như gáo nước lạnh làm dập tắt lửa hăng
của chuột con . Các chuột im lặng khá lâu, thì có một con
chuột nhỏ nhẹ nói :
- Chuột mà tranh đấu với mèo , thật là không nổi . Ta tránh
nó thì hơn .
- Đúng vậy !
- Phải lắm !
- Hay lắm!
Chuột kia nói tiếp :
- Muốn tránh mèo, ta phải nghĩ cách nào báo cho ta biết sự
hiện diện của mèo . Để ta tránh trước, khỏi sợ bị mèo
chụp . Cách ấy , tôi nghĩ rằng ta nên treo một cái lục lạc
nơi cổ của lão mèo . Lão đi đến đâu, lục lạc rung vang báo
tin cho chuột ta hay, mà lánh trước .
Hồn cho thằn lằn nghe kế ấy, thuật lại cho người nghe . Và
phê bình :
- Quả là Đại Trí !
Nhưng hồn con thằn lằn nhìn mãi, thấy lũ chuột im phăng
phắc, chẳng có chuột nào động đậy, chẳng chuột nào thốt
một lời, mà cũng chẳng chịu giải tán, cho chuột nào trở về
hang nấy . Hồn con thằn lằn hỏi người :
- Sao lũ chuột lại như vậy ?
Người đáp rằng :
- Bởi lũ chuột hèn nhát . Tuy kế là hay, song chẳng có chuột
nào có cái Dũng, dám đeo lục lạc mà mang vào cổ lão mèo, để
tự cứu, mà cũng để cứu đồng loại . Có Bi mà không Trí,
là vô bổ . Có Bi và Trí mà thiếu Dũng, là vô hiệu . Bi,
Trí, Dũng là ba cái chân vạc , thiếu một chân ấy là vạc
nghiêng đổ đi .
- Làm sao bây giờ ?
- Ngươi muốn cứu chuột, ngươi phải làm chuột . Ngươi phải
đầu thai làm con chuột có Đại Bi mà biết thương đồng loại,
có Đại Trí mà biết đem lục lạc mang vào cổ của lão mèo, có
Đại Dũng mà dám hi sinh, liều mình, chẳng sợ mèo ăn tươi
nuốt sống , mang lục lạc xông đến gần lão mèo .
Lời của người làm cho hồn con thằn lằn đại ngộ lần nữa . Muốn cứu độ hạng nào, phải hoà mình vào hạng ấỵ Thích
Ca đã từ chối ngôi báu, vì Thích Ca muốn hòa mình vào chúng
dân, để cứu độ chúng dân . Hồn con thằn lằn muốn cứu
độ lũ chuột thì hồn con thằn lằn phải hòa mình vào lũ
chuột, đầu thai làm con chuột, về muôn vàn cạnh khía, thảy
đều không khác gì với giống chuột . Chỉ khác có một chút
xíu là trong tâm hồn của con chuột này có Đại Bi, Đại Trí và
Đại Dũng mà thôi . Có được đại ngộ ấy, thằn lằn ta
bèn đâu thai làm chuột .
6
Bởi là do con thằn lằn đâu thai, nên khi chuột ta sanh ra,
thì hình vóc còn mang máng giống con thằn lằn . Mẹ nó lầm
tưởng là rồng . Bèn đặt tên cho nó là Long Thử .
Long Thử lớn lên, có vẻ trầm ngâm, đạo mạo . Lời nó kêu
chít chít nào, nghe cũng có ý nghĩa u thời mẫn thế . Một
hôm nó gọi một bạn chuột lực lưỡng theo nó . Té ra, nó đã
gặp được nơi góc tàu ngựa , một cái lục lạc to bằng quả
trứng, nên về gọi bạn theo nó . Đến nơi, nó nằm ngữa ra,
ôm lục lạc vào lòng, và bảo bạn cắn đuôi mà kéo, như là
kéo xe vậy . Kéo nó tới đâu, thì tiếng lục lạc kêu lên
rổn rảng . Mà bạn nó, vì cắn đuôi nó mà kéo đi chỉ nghe
theo lịnh nó chít chít điều khiển, nên chẳng biết trước sẽ
hướng vào đâu, thành ra không sợ sệt chi . Long Thử ra lịnh
cho kéo đến lão mèo, tính đem lục lạc mà mang vào cổ lão
mèo, như trước kia, lúc nó còn là hồn con thằn lằn, nó đã
nghe nói vậy .
Nằm một góc, lừ đừ, lão mèo nghe vang tiếng lục lạc . Bèn
giương mắt nhìn, chẳng biết con gì, đầu chẳng thấy mặt
mũi chi, chỉ thấy một cái vòi quơ qua quơ lại, để tìm
phương hướng, lại có đến tám chân lại chổng lên mà nghỉ ,
mà kêu rống chẳng ngơi . Lão mèo quá sợ, nhảy phóc lên nóc
nhà, kêu "miao!" rất là kinh hãi .
Lũ chuột núp trong hang, nãy giờ thấy mèo rình, không dám ra .
Con nào đói thì mau mau đi tìm mà ăn vụng . Một số đông lại
bu quanh Long Thử , lên tiếng chê bai :
- Việc này có gì là khó ? Ai mà nằm ngửa ôm lục lạc chẳng
được ? Vì lối ăn cắp trứng ấy, chuột nào mà chẳng biết ? Chỉ vì mèo dại, thấy hai con chuột cắn đuôi nhau , lầm
tưởng là con quái gì, mà sanh ra sợ thôi !
Chẳng dè , nằm trên mái nhà, lão mèo nghe và hiểu tiếng
chuột, lão nhìn xuống, thấy quả là Long Thử ôm lục lạc, nằm
ngửa cho một chuột khác cắn đuôi; và cái mà lão lúc nãy
tưởng đâu là cái vòi quơ qua quơ lại, thật sự, chỉ là cái
đuôi chuột ! Lão vừa thẹn cho lão, vừa phục Long Thử đa
mưu, vưà phát ghét lũ chuột vô ân, đã buông lời chê bai kẻ
mới cứu mình khỏi nạn . Từ trên mái nhà, lão mèo phóng
xuống, mỗi một tay hay chân, sè vuốt mà móc họng một chuột .
7
Tất cả các chuột khác hoảng chạy tứ tán . Long Thử và
bạn nó cũng giựt mình , hoảng hốt chạy theo , chun vào hang mà
trốn . Chừng tinh thần định tỉnh lại lũ chuột bèn lập tòa
án chuột để mà xử Long Thử . Long Thử bị buộc tội là
Thử gian, làm chuột mà lãnh lịnh của mèo, hại loài chuột của
mình . Bằng cớ là bấy lâu nay, lão mèo mỗi lượt chỉ móc
họng được một chuột mà thôi; còn bây giờ, mèo và Long Thử
toa rập, để cho mèo giết một lần đến 4 trự chuột . Nếu
không nhờ Thử gian đồng lõa mà giúp , dễ gì mèo chụp một
lượt đến 4 chuột ? Lời buộc tội quá hữu lý như vậy ,
đủ bằng cớ thiết thực như vậy , dễ gì Long Thử đem tâm
tình của mình, một tâm tình vô hình, không biết tựa vào đâu
mà chứng minh, để nói rằng mình chỉ có lòng cứu độ loài
chuột, chớ chẳng có dạ phụng sự cho mèo để hại chuột ?
Long Thử bị kết án tử hình . Điều này nó dễ chấp nhận,
nếu nó phải đem cái chết của nó làm điều kiện, để cứu
độ loài chuột, mà nó quá thương yêu . Song cái bản án của
nó , "tội Thử gian", làm cho nó đau khổ vô cùng ; vì nó mang
một cái oan vô tận, không ai giải cho được .
8
Lòng oan của nó xung lên, thành một vùng trở lực, tận
đến cõi trời Đâu Suất . Ở cõi trần không thấy chi cả .
Còn ở trên kia, trở lực ngăn cho Thần Tiên không lui tới
được làm cho lưu thông phải nghẽn . Thần Tiên phải hội nhau
lại , tính làm sao cho việc đại bất công này được giải, thì
vũ trụ mới tuần hoàn theo trật tự . Bàn cãi rất lâu, Thần
Tiên tìm ra được một biện pháp, là bấy lâu nay, người ta
đếm mười hai chi (tí, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi,
thân, dậu, tuất, hợi) , thì mỗi chữ này vốn là trừu
tượng, không có nghĩa gì; nhưng bắt đầu từ bây giờ, phải
cho loài người hiểu rằng chữ đứng đầu tất cả, là chữ
Tí, phải dành để cho Long Thử tượng trưng . Những đức
tánh quý báu của nó, mà đặt ra làm chủ tể cho luân lý, thì
vũ trụ mới vận hành điều hòa được .
Từ ấy, hỏi đứa trẻ nào, nó cũng biết "tí là con chuột" .
Nhưng từ ấy nhẫn nay, loạn lạc vẫn kéo dài hoài; bởi loài
người chưa giác ngộ, cứ lầm tưởng chuột ấy là thứ
"chuột tham, sân, si" kia . Chừng nào, đứng đầu cho cuộc
vận hành của vũ trụ là con Long Thử, con chuột học được, và
hành được theo Bi, Trí, Dũng thì may ra , nguồn Thanh Bình mới
khai được .
Nguồn: Tạp Chí Quê Mẹ, Paris
1667
Gia đạo hai ông bà Lê Đức Nghĩa cũng khá, đủ chi dụng trong thời buổi gạo châu củi quế. Hai ông bà chỉ sanh đặng một gái tên Lê Thị Phi Tiễn, nhan sắc của cô tuy dòm cá cá chẳng lừ đừ, ngắm nhạn nhạn chẳng sa, chớ cũng dễ làm cho trai thiếu niên say mê một lúc. Niên kỷ cô đã hai tám lẻ một nhưng vì óc của cô đã nhiễm sự giàu sang nên cô chỉ ước làm sao cho cô có một người chồng xứng đáng làm ông này ông kia, có bằng cấp tú tài, tấn sĩ, cùng là cử nhân, v.v... mà lại giàu sang, ruộng cò bay thẳng cánh, thì cô mới chịu lấy làm chồng cô. Lạ thay hai ông bà cũng đã nhiễm sự ấy, cho nên cô Phi Tiễn mới giữ đặng một phần tư tưởng ấy.
Đến tuần cặp kê, có nhiều chỗ đi nói mà cô chẳng chịu, cô chê không có bằng cấp tú tài, mà lại nghèo nên cô không chịu, nhiều cậu thiếu niên tức lòng mới bày mưu này kế nọ đặng hại cô cho bõ ghét.
Thầy Hoàng Vô Tâm là một thầy trong bọn bị cô Phi Tiễn khinh rẻ, trù tính đặng một kế. Thầy mới năn nĩ ông Cò mi Ngô Minh Thẹo... Đặng mượn bằng cấp tú tài và xe Talbot Limousine của ông. Chiều lại thầy Vô Tâm mới cậy bà già gần bên nhà làm mai giùm thầy. Bà già cô Phi Tiễn hõi bà mai rằng:
- Chẳng hay thầy đi nói con tôi đương thời làm việc gì tại đâu, làm ông gì?
- Ông Cò mi đa, chớ chẳng phải chơi đâu mà hỏi thầy này thầy nọ, ông làm trên dinh Khâm sứ, có bằng cấp Tú tài, lương bổng mỗi tháng đặng một trăm ngoài. Cha mẹ ổng giàu có, nên ông đi làm đi bằng xe hơi.
- Đặng, có vậy thì tốt, nhưng ông là con một hay là con út?
- ổng là con một nên cha mẹ ổng cưng ổng lắm, chừng cha mẹ ổng chết thì ổng hưởng một mình ổng một cái gia tài rất lớn, một năm thâu huê lợi đặng chừng vài muôn, con gái của bà mà sa vào đó rồi thì tự do ăn xài, chớ khõi lo chi nữa hết.
- Cha, giàu dữ vậy lận, nhưng khoan đã để tôi hõi con gái tôi thữ coi nó chịu hay không. Hai a! (dạ)! Ra đây má biểu chút con.
- Thưa má kêu con ra có việc chi?
- Đây bà này tính làm mai cho con ông Cò mi nào làm trên dinh Khâm sứ đó con, vậy con chiệu hay không trả lời cho người ta biết đặng người ta mừng, con.
Bà già tiếp: - Nếu cô Hai đây mà chiệu rồi thì cô đòi chi ông Cò mi cũng sắm cho cô hết, ông giàu có lắm cô hai, chừng đặng cô rồi chắc là ông cưng cô lắm.
Cô Phi Tiễn còn dụ dự chưa quyết, bà già mới bồi thêm: - Ông Cò mi này là con một mà lại giàu nữa cô hai, thật cô có phước quá nên ổng mới thương cô, nên cậy tôi nói giùm. Cô Phi Tiễn nghe xong mới trả lời: "Thưa má, má định đâu thì con theo đó, chổ nào mà má ưng bụng thì con cũng vậy". Bà già nghe nói mừng thầm, mà má cô cũng vậy.
Bà già đặng việc, nên kiếu ra về, cho thầy Vô Tâm hay và biễu chiều mai qua coi mắt, thầy Vô Tâm qua nhà cô Phi Tiễn, hai ông bà và cô đều ưng bụng cả, định bữa chúa nhựt tới thì làm lễ cưới. Đám cưới cũng khá trọng. Thầy Vô Tâm mới làm hôn thơ hôn thú đàng hoàng. Bữa kia thình lình, thầy kêu vợ ra nói:
- Này mình, mình biết tôi làm việc ở đâu không? Làm ông gì?
- Mình khéo giã ngộ thì thôi.
- Ai đi giã ngộ với mình bao giờ.
- Thì mình làm ông Cò mi ở dinh Khâm sứ chớ đâu.
- Mình lầm rồi đa. Tôi làm ở nhà in Albert Portail ăn lương mỗi tháng đặng 35 ngàn bạc, cha mẹ tôi nghèo khổ chớ có phãi ông Cò mi, cò mơ gì đâu.
Đây này để tôi đi lấy ra cho mình coi, cái bằng cấp Tú tài này có phãi của tôi đâu, tôi mượn của ông Cò mi Ngô Minh Thẹo đây mà, với cái xe hơi cũng vậy, mình tin chưa?
Cô Phi Tiễn nghe nói ứ hự, mặt cô dàu dàu, việc đả lở ra rồi biết tính làm sao?
Thầy Vô Tâm cười và nói tiếp: - Hồi trước tôi đi coi mình mình chê tôi không xứng đáng, vậy chớ nay mình lấy ai đây, phãi lấy tôi hay không?
Cô Phi Tiễn ăn năn đã muộn rồi, hy vọng cũa cô đã trôi theo dòng nước. Sáng ra thầy Vô Tâm mới lại nhà cha mẹ vợ, gặp lúc ông già vợ đi khõi, nên thầy mới nói với mẹ vợ rằng:
- Má này, má chắc tôi giàu lắm phải không?
- Sao mà không chắc, con có xe hơi, con làm ông Cò mi.
- Má nghĩ sai rồi, tôi đương không có một đồng một chữ làm sao mà có xe hơi đặng, ấy là cũa tôi mượn cũa người ta với cái bằng cấp Tú tài đặng đi nói con má vậy thôi chớ nào có chi đâu, như má không tin thì má hõi lại con má thữ coi thì má biết.
- Con nói chơi hay thiệt vậy con?
- Thiệt chớ chơi đâu má. Tôi tên là Vô Tâm, má quên hay là nhờ vậy mà má mới gả con má cho tôi.
Bà già vợ nghe đến đây bắt dửng dừng dưng, chĩ ngồi thở ra mà thôi; thầy Vô Tâm mới nói:
- Thưa má con về!
Bà già chẳng nói một tiếng. Chừng ông về bà nói lại thì ông có vẻ buồn và nói:
- Con mình ra nông nổi này cũng vì ham bằng cấp tú tài.
Công luận báo,
Số 2110, ngày 6/7/31
1666